<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<?xml-stylesheet type="text/xsl" media="screen" href="/~d/styles/atom10full.xsl"?><?xml-stylesheet type="text/css" media="screen" href="http://feeds.feedburner.com/~d/styles/itemcontent.css"?><feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xmlns:openSearch="http://a9.com/-/spec/opensearch/1.1/" xmlns:georss="http://www.georss.org/georss" xmlns:gd="http://schemas.google.com/g/2005" xmlns:thr="http://purl.org/syndication/thread/1.0" gd:etag="W/&quot;DkMCSXgzeCp7ImA9WhRbGEQ.&quot;"><id>tag:blogger.com,1999:blog-1383639910623827964</id><updated>2012-02-11T00:21:08.680+07:00</updated><category term="Hỏi - Đáp" /><category term="Ngày lễ" /><category term="Truyện vui" /><category term="Bài học" /><category term="Danh ngon" /><category term="Thuyết tiến hóa" /><category term="Chúa và khoa học" /><category term="Giới thiệu sách" /><category term="Xã hội" /><category term="Danh nhân Cơ Đốc" /><category term="Văn hóa Việt" /><category term="Thơ ca" /><category term="Ma-thi-ơ" /><category term="Đuổi quỷ" /><category term="Bài học thành công từ Kinh Thánh" /><category term="Thánh ca" /><category term="Tin tức" /><category term="CÁC SÁCH TÂN ƯỚC" /><category term="Tản mạn" /><category term="Triệu phú theo cách của Chúa" /><category term="Thờ cúng tổ tiên" /><category term="Tin Lành" /><category term="Tìm hiểu Kinh Thánh" /><category term="Thư viện" /><category term="Đức tin" /><category term="Lời chứng" /><category term="Tôn giáo" /><title>EMMANUEL</title><subtitle type="html">Đức Giê-su đáp: "Ta chính là Con Đường, Chân Lý và Nguồn Sống, chẳng bởi Ta thì không ai đến cùng Cha được."
(Giăng 16:4)</subtitle><link rel="http://schemas.google.com/g/2005#feed" type="application/atom+xml" href="http://trungfq.blogspot.com/feeds/posts/default" /><link rel="alternate" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/" /><link rel="next" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default?start-index=26&amp;max-results=25&amp;redirect=false&amp;v=2" /><author><name>Phạm Quang Trung</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14901332933612324160</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel="http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail" width="32" height="24" src="http://3.bp.blogspot.com/---EG_fDe9VI/TvB1ij_Gm0I/AAAAAAAAALg/BW3RCHyMMrg/s220/TRUNG.jpg" /></author><generator version="7.00" uri="http://www.blogger.com">Blogger</generator><openSearch:totalResults>942</openSearch:totalResults><openSearch:startIndex>1</openSearch:startIndex><openSearch:itemsPerPage>25</openSearch:itemsPerPage><atom10:link xmlns:atom10="http://www.w3.org/2005/Atom" rel="self" type="application/atom+xml" href="http://feeds.feedburner.com/blogspot/oJBI" /><feedburner:info xmlns:feedburner="http://rssnamespace.org/feedburner/ext/1.0" uri="blogspot/ojbi" /><atom10:link xmlns:atom10="http://www.w3.org/2005/Atom" rel="hub" href="http://pubsubhubbub.appspot.com/" /><feedburner:emailServiceId xmlns:feedburner="http://rssnamespace.org/feedburner/ext/1.0">blogspot/oJBI</feedburner:emailServiceId><feedburner:feedburnerHostname xmlns:feedburner="http://rssnamespace.org/feedburner/ext/1.0">http://feedburner.google.com</feedburner:feedburnerHostname><entry gd:etag="W/&quot;DkMCSXgyfCp7ImA9WhRbGEQ.&quot;"><id>tag:blogger.com,1999:blog-1383639910623827964.post-7818589365234313117</id><published>2012-02-11T00:19:00.001+07:00</published><updated>2012-02-11T00:21:08.694+07:00</updated><app:edited xmlns:app="http://www.w3.org/2007/app">2012-02-11T00:21:08.694+07:00</app:edited><category scheme="http://www.blogger.com/atom/ns#" term="Đuổi quỷ" /><title>Quyền Năng Của Chúa</title><content type="html">Tôi sắp kể ra đây một câu chuyện thật  mà một số người và chính tôi đã chứng kiến bằng mắt mình. Nguyện sự vinh hiển thuộc về Chúa. &lt;span class="fullpost"&gt;Vào một trưa hè tại Hội thánh Hồng Ngự, cách đây rất nhiều năm, ngày ấy tôi độ khoảng 8 hay 9 tuổi gì đó thôi nhưng tôi nhớ như in vì câu chuyện quá lạ lùng đã khắc sâu vào tâm trí tôi. Hồng Ngự là Hội thánh thứ ba mà cha tôi, một mục sư trẻ, đến hầu việc Chúa. Lúc ấy nhà thờ Hồng Ngự còn là nhà sàn bằng cây ván bên cạnh sân banh. Tư thất mục sư tiếp nối ở phía sau tòa giảng, được ngăn ra cũng bằng vách ván. Trưa ấy, một bà cụ đến tìm xin nước thánh để về chữa bệnh cho con gái của bà.Con bà điên loạn vì bị quỷ ám, nhiều ngày chẳng ăn uống được gì. Cha tôi đã cắt nghĩa cho bà cụ biết hội thánh Tin Lành không có nước thánh và nước thánh cũng không thể chữa lành cho con bà được, chỉ có quyền năng Chúa mà thôi. Cha tôi bảo nếu bà tin thì hãy đem con gái đến. Bà cụ tin và hứa sẽ trở về đem con gái mình đến nhà thờ liền.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong khi chờ đợi, cha tôi đọc Kinh Thánh rồi vào phòng riêng buông màn xuống cầu nguyện với Chúa. Một lúc sau từ xa có một đoàn người rất đông đi tới. Quỷ dữ đã hành hại người đàn bà trạc 30 tuổi một cách khổ sở. Đầu bà đội chiếc quần đen, hai ống cột lại với nhau ở dưới cầm, la hét khan cả cổ, có lúc đi, có lúc thì lăn tròn xuống con đường đất trải đá, rồi có lúc đứng lên vừa đi vừa múa may quay cuồng. Thật lạ, vừa bước chân lên chiếc cầu ván để vào sân nhà thờ, bà Mướp (tên người đàn bà) bỗng đi đứng lại đàng hoàng và có vẻ khép nép, hiền dịu nữa. Họ đi vào bên hông nhà thờ, nơi một bên là tòa giảng, một bên là cửa tư thất (nhà của gia đình mục sư ở). Lúc đó mẹ tôi đã đóng cửa tư thất, giữ ba con nhỏ bên trong. Tuy vậy chúng tôi đều háo hức cố tìm kẻ vách ván để ghé mắt nhìn xem chuyện gì xảy ra bên ngoài và đã chứng kiến cảnh tượng thật lạ lùng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào đến nơi bà Mướp  sợ sệt cất giọng run rẩy:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Cha ơi con sợ cha lắm cha ơi….&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cha của tôi nghiêm giọng ra lệnh (cho quỷ ở trong bà):&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Quỳ gối xuống,bỏ cái gì trên đầu ra, khoanh tay, nhắm mắt lại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bà Mướp làm theo. Cha tôi cầm quyển Kinh Thánh để ở trên đầu bà và nói:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Nhân danh Chúa Giê Xu tôi đuổi quỷ ra khỏi người nầy!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bà Mướp đã nhảy vọt lên một cái thật cao rồi té rầm xuống sàn ván. Nghe đến danh Chúa Giê Xu quỷ đã phóng ra khỏi, vật người đàn bà ngã nằm dài thảm thương. Dân chúng sợ hãi bỏ chạy tán loạn ra đường. Cha tôi đỡ bà dậy, cho bà ngồi lên ghế nghỉ mệt rồi khởi sự cắt nghĩa đạo. Bà Mướp chăm chú nghe và cuối cùng bằng lòng tiếp nhận Chúa Giê Xu làm Cứu Chúa của đời sống mình. Một lần nữa bà quỳ xuống để cha tôi cầu nguyện cho. Lần nầy chính bà quỳ gối trước Chúa chứ không phải quỷ trong bà run rẩy quỳ. Theo lời dặn dò trước thật chu đáo của cha tôi, mẹ tôi đã nấu sẵn cháo vì biết bà mấy ngày nay không ăn uống gì. Bà Mướp dùng cháo rồi ra về với người mẹ già trong sự sững sờ của mọi người.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ đó chúng tôi thấy bà Mướp rất trung tín đến Hội thánh để thờ phương Chúa đều đặn mỗi Chúa nhật. Từ đó niềm tin vào quyền năng Chúa trong tôi đã lớn lên thật vững chắc.Tôi biết rằng thế gian có một quyền lực tối tăm rất mạnh mẽ, đáng sợ, nhưng tôi cũng tin rằng Chúa mà mình đang thờ phượng có năng lực trỗi hơn gấp vạn lần. Quyền lực của sự tối tăm phải bị khuất phục trước danh quyền năng cao cả của Chúa Giê Xu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cảm tạ Chúa vì con có Ngài. Thật phước hạnh cho đời con vì được sống, trông cậy vào Quyền Năng Tuyệt Đối ấy trong thân xác hay hư nát nầy. Amen.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người Thầm Lặng&lt;br /&gt;http://www.songdaoonline.com/?com=vuonedenmoi&amp;mod=news&amp;news=9&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/1383639910623827964-7818589365234313117?l=trungfq.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel="replies" type="application/atom+xml" href="http://trungfq.blogspot.com/feeds/7818589365234313117/comments/default" title="Đăng Nhận xét" /><link rel="replies" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/02/quyen-nang-cua-chua.html#comment-form" title="0 Nhận xét" /><link rel="edit" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/7818589365234313117?v=2" /><link rel="self" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/7818589365234313117?v=2" /><link rel="alternate" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/02/quyen-nang-cua-chua.html" title="Quyền Năng Của Chúa" /><author><name>Phạm Quang Trung</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14901332933612324160</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel="http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail" width="32" height="24" src="http://3.bp.blogspot.com/---EG_fDe9VI/TvB1ij_Gm0I/AAAAAAAAALg/BW3RCHyMMrg/s220/TRUNG.jpg" /></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry gd:etag="W/&quot;CEAFQn04eyp7ImA9WhRbGEQ.&quot;"><id>tag:blogger.com,1999:blog-1383639910623827964.post-6613725805390861214</id><published>2012-02-10T23:47:00.001+07:00</published><updated>2012-02-10T23:51:53.333+07:00</updated><app:edited xmlns:app="http://www.w3.org/2007/app">2012-02-10T23:51:53.333+07:00</app:edited><category scheme="http://www.blogger.com/atom/ns#" term="Đuổi quỷ" /><title>Quyền Năng Chúa Đuổi Tà Linh</title><content type="html">Người làm chứng: Nguyễn Thị Quyên&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Anh chị Nguyễn Hoàng Minh hiện là thuộc viên của Hội Thánh Tin lành Báp Tit Thiên Ân tại Seattle-Washington, là một gia đình Cơ đốc tốt, hiện anh đang làm việc cho hội World Vision, chị làm việc trong bệnh viện. Anh chị có hai con gái, 8 tuổi và 5 tuổi. Sau đây là lời chứng của Chị Nguyễn Thị Quyên vợ anh Minh.&lt;span class="fullpost"&gt;Khi tôi còn thơ ấu, tôi chưa hiểu cuộc đời mình như thế nào, và khi đến mười tuổi, tôi mới được biết là mình không có cha mẹ. Nghe hàng xóm kể lại, cha tôi là một quân nhân Mỹ, đã từng phục vụ tại Việt nam, mẹ tôi là người Việt. Khi sanh tôi ra, bà quá túng quẫn, nghèo khổ, không có tiền để nuôi tôi, bà đành gửi tôi cho một người cùng quê, và khi nào có tiền, bà sẽ chuộc tôi lại. Người đàn bà nhận tôi lại đem tôi cho con trai của bà, người đàn ông này có tên gọi là Ông Sáu. Ông Sáu có một vợ và bốn đứa con, khi ông nhận tôi nên tôi trở thành đứa con thứ năm. Tuy là một người giàu có, có nhiều đất đai, thu nhiều hoa lợi, nhưng tôi sống trong gia đình Ông thật rất khổ sở. Ăn uống không no, không được tự do, và bị ganh ghét bởi các anh chị trong gia đình, bởi tôi là một đứa con nuôi.&lt;br /&gt;Tôi nhớ một ngày kia, bà Sáu và tôi đi giặt áo quần cho gia đình. Sau khi giặt xong, bà không cho tôi phơi quần áo của tôi chung với áo quần của con bà, với lí do tôi không phải là con ruột của bà. Tôi đành phơi quần áo của tôi trên hàng rào dây kẽm gai. Một lúc sau,trời bỗng đổ mưa, tôi chạy ra rút vội áo quần của tôi vì sợ ướt thì chiều đó sẽ không có đồ thay, bởi tôi chỉ có hai bộ đồ mà thôi. Vì rút vột, áo quần tôi bị dây kẽm gai móc rách, nên chiều đó tôi đã bị một trận đòn chí tử.&lt;br /&gt;Ông sáu là một người tàn ác, ông coi tôi như một vật trò chơi giải trí. Tự nhiên ông bảo tôi cười, thì tôi phải cười, bảo tôi khóc thì tôi phải khóc. Nếu không làm theo, tôi sẽ bị đánh đòn tàn nhẫn. Khi tôi 12 tuổi, ông Sáu đã quăng tôi xuống sông. Sau khi tôi uống nước, ông kéo tôi lên rồi lại quăng tôi xuống nước. Rồi liên tục làm mấy lần như thế. Lần chót, ông quăng tôi xuống một chỗ có nước rất sâu. Tôi không biết bơi, nghĩ rằng mình sẽ chết, nhưng sau đó một bà hàng xóm đã với tôi lên. Bà này ngày nay là mẹ chồng của tôi.&lt;br /&gt;Khi ở nhà ông Sáu, tôi không được đi học, nên tôi không biết một chữ nào. Gia đình ông Sáu viện lí do là sợ biết chữ thì tôi sẽ viết thư tình, liên lạc với trai...Sống trong gia đình này, dù nhỏ tuổi, tôi cũng phải làm nhiều việc rất nặng nhọc như làm cỏ, nhổ mạ, cấy lúa, cuốc đất..Tôi không lo sợ cực nhọc vì công việc, nhưng điều tôi sợ là bị người ta đánh đập. Một thời gian sau,gia đình ông Sáu dọn ra ở riêng, và tôi được đưa về chăm sóc và làm việc với mẹ của ông Sáu và tôi gọi bà là bà nội. Nơi đây tôi vẫn phải làm lụng một cách cực nhọc và khổ sở như thường. Nhất là khi các người con cháu của bà về thăm, tôi nhận thấy sự kì thị rõ rệt. Họ nói với tôi rằng: "vì mày không phải là con của ba tao, không phải là cháu của bà tao", làm tôi tủi thân và buồn khổ nhiều.&lt;br /&gt;Đến khi 17 tuổi, tôi được người ta chuẩn bị giấy tờ, và đổi tên tôi lại để đi Mỹ với người con trai thứ bảy của bà nội theo diện con lai. Tên tôi là Nguyễn Thị Quyên, bị đổi thành tên là Phan Kim Phượng, là tên người con gái của gia đình sẽ cùng đi Mỹ với tôi. Phượng đã chết từ lúc nhỏ, gia đình muốn hợp lệ việc giấy tờ, nên đã đổi toàn bộ tên tuổi, ngày tháng năm sinh của tôi sang giống như của cô Phượng đã qua đời.&lt;br /&gt;Đến Phi-líp-pin, trong thời gian học tiếng Anh để chuẩn bị nhập nội Hoa Kì,tôi ở với gia đình ông Bảy, nhiều đêm đắng cay, đau khổ vì bị mắng nhiếc, chửi rủa, nào là “..mày là đồ ngu dốt, không biết chữ thì đi Hoa Kì biết gì mà làm ăn..”.&lt;br /&gt;Lúc này Chúa đã đưa tôi càng gần Ngài hơn nhưng tôi không biết. Chúa cho tôi gặp được một một người bạn gái sống chung cùng chung cư cao tầng, và cô mời tôi đi nhà thờ. Khi đến nhà thờ, tôi thấy người ta nhìn vào thánh ca hát một cách rất vui vẻ và nhìn vào Kinh Thánh đọc lời Chúa một cách hớn hở , lòng tôi thầm ao ước. Cô bạn đưa cho tôi quyển Thánh ca, tôi hổ thẹn và mặc cảm vì mình không biết đọc chữ. Tôi cố gắng tiếp tục đi nhà thờ và sau đó có lớp học giáo lý để làm lễ báp têm. Theo thường lệ,các học viên phải học thuộc một số câu Kinh Thánh trước khi được làm lễ báp têm, và sau đó sẽ nhận được một quyển Kinh Thánh.&lt;br /&gt;Tôi đem các câu Kinh Thánh về phòng, nhưng không biết làm thế nào để đọc được, nên phải nhờ người bạn khác đọc giùm. Tôi phải nhớ lời đọc đó và học thuôc lòng để trả bài cho Mục sư. Sau đó tôi nhận được một cuốn Kinh Thánh và tập về sự cầu nguyện. Niềm ao ước lớn nhất của tôi lúc bấy giờ là Chúa cho tôi biết đọc được Việt ngữ để hiểu được Kinh Thánh. Chúa đã nhậm lời. Ba tuần sau tôi đi nhà thờ và đọc được chữ “Hội Thánh Tin Lành”. Tôi e ngại mình đọc sai nên viết lại và đem về nhà hỏi các bạn. Họ nói rằng tôi đọc đúng và sẽ giúp tôi học thêm, nhưng rồi họ cũng phải đi định cư ở Mỹ,nên tôi phải tự học và tôi đã đọc được một cách trôi chảy. Ngày nay bốn chữ: "Hội Thánh Tin Lành” là kỉ niệm đẹp và đáng nhớ trong cuộc đời của tôi.&lt;br /&gt;Khi đến Mỹ,gia đình ghép tên với tôi không cho tôi ở với gia đình họ nữa. Họ đuổi tôi ra khỏi nhà, và tôi đã phải đi vào viện mồ côi, ở chung với những đứa trẻ bụi đời, phá phách, hư hỏng. Ở đây thật kinh hoàng. Tôi cầu nguyện xin Chúa đem tôi ra khỏi nơi này, và Chúa đã nhậm lời. Có một Ông Mục sư đến thăm, tôi liên lạc với Ông xin ra khỏi cô nhi viện, và người ta đã gửi tôi vào một gia đình thuộc Hội Cha Mẹ Nuôi. Gia đình không tin Chúa nên thường không vui khi tôi đi nhà thờ. Tuy nhiên tại đây tôi được tiếp tục đến trường học.&lt;br /&gt;Từ một người chưa từng đi học tại Việt nam, mà nay tôi phải vào học lớp 9, vì các trường của Hoa Kì căn cứ vào tuổi để xếp lớp. Với sự khác biệt về ngôn ngữ và không có căn bản của những năm học trước, nên tôi rất vất vất vả trong việc học. Tôi cầu nguyện rất nhiều xin Chúa giúp đỡ. Các môn học cần thiết, căn bản lúc đầu hơi quờ quạng, nhưng sau đó Chúa cho đạt kết quả tốt, điểm cao,không bị ở lại lớp và tốt nghiệp được trung học theo dự định của nhà trường. Tôi thật vui mừng cảm ơn Chúa. Xong trung học, tôi ra khỏi sự giứp đỡ của Hội Cha Mẹ Nuôi, và lập gia đình với anh Nguyễn Hoàng Minh, một thanh niên yêu mến Chúa tại Hội Thánh Tin Lành Báp Tít Thiên Ân. Chúa cho gia đình tôi sống hạnh phúc, vui vẻ và mỗi tuần được đi nhà thờ thờ phượng Chúa.&lt;br /&gt;Ngày 31-10-1993,khi đang dự lễ Halloween tôi cảm thấy khó chịu, đau đầu và không biết gì nữa. Nghe chồng tôi kể lại, thì lúc đó tôi nằm và nói một mình với giọng nói và điệu bộ khác thường. Anh Minh chồng tôi đã gọi điện thoại cho Ông Mục sư Nguyễn Hữu Trang vào lúc 3h:30 sáng,mời Ông đến cầu nguyện cho tôi. Vì không biết nhà Ông đã nhờ chị Mỹ Dung, một người bạn, dẫn đường đến nhà của tôi. Chồng tôi cho Mục sư biết thứ bảy vừa qua, khi chúng tôi đi dự lễ bồi linh do Liên bang Cơ đốc tổ chức tại Tacoma,WA. Khi về nhà, tôi đâm ra nói lãng, mắt bất thần, những lời do miệng tôi nói nhưng không phải là của tôi, mà của một người nào khác. Mục sư, chồng tôi và chị Dung cùng cầu nguyện, mắt tôi vẫn mở trừng trừng ra vẻ giận dữ và lắc đầu. Khi Mục sư nhân danh Chúa Jesus đuổi quỷ ra khỏi tôi, một giọng nói ra từ miệng tôi phát ra:“Tôi không đi đâu”. Mục sư lấy Kinh Thánh ra đọc trong sách Luca 8:26-39, nói về người Giê-ra-sê bị quỷ quân đội ám. Tôi trợn mắt, bịt tai không muốn nghe. Đọc xong khúc Kinh Thánh Mục sư hỏi: “ngươi tên gì?, một giọng nói ra từ miệng tôi phát ra: “Không có tên!”. Mục sư tiếp tục cầu nguyện cho tôi, Ông nhân danh Chúa Jesus ở Na-xa-rét ra lệnh cho tà linh phải ra khỏi tôi. Quỷ trong tôi tỏ vẻ phản đối, không chịu ra và tiếp tục nói nhảm. Chị Dung đề nghị mời thêm Ông bà Skip-Bell người Mỹ, là trưởng lão và chấp sự của Hội Thánh, đến tiếp tay cầu nguyện. Khi ông bà Skip đến, cả năm người (MS, ông bà Skip, chị Dung và chồng tôi) thay phiên nhau cầu nguyện cho tôi. Mục sư hướng dẫn tôi cầu nguyện. Khi tôi nói đến câu: “Nhơn danh Chúa Jesus ra lệnh cho tà linh hãy ra khỏi ta”, thì quỷ khiến tôi nghiến răng và lấy tay bịt miệng, không cho tôi nói. Mục sư tiếp tục cầu nguyện, quỷ vẫn chưa ra. Sau hai giờ cầu nguyện, ông bà Skip đã mệt. Mục sư đề nghị ông bà Skip về trước.&lt;br /&gt;Tôi không nhớ tà linh đã nói gì với tôi, nhưng theo chồng tôi kể lại là tôi đã nói một mình rằng: “Chị cho em thấy mẹ em”. Sau đó tôi kêu lên: “mẹ ơi! mẹ ơi!”rồi tôi ôm chồng tôi và khóc. Khi đó Mục sư giải thích với tôi rằng đó không phải là mẹ thật của tôi đâu, ma quỷ lừa dối, vì nếu mẹ tôi còn sống thì bây giờ có lẽ ở Việt nam. Còn nếu đã chết thì đã về một nơi mà Chúa đã định sẵn và không về lại được. Đừng tin lời lừa bịp của ma quỷ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một lần nữa Mục sư giúp tôi cầu nguyện bằng cách lặp lại theo lời của ông. Lần này tôi đã cầu nguyện được một cách thông suốt và đã nói: “Nhơn danh Chúa Jesus đuổi tà linh quỷ dữ ra khỏi thân xác, tâm trí và linh hồn con..xin Chúa Thánh Linh chiếm hữu hoàn toàn đời sống của con”. Tôi nói: “Thôi chị ra đi, đừng tới đây nữa, đừng phá phách em nữa. Tôi tỉnh lại, trí óc mệt nhoài và còn đau đầu. Lúc ấy là 7h:30 phút sáng ngày chúa nhật. Chồng tôi muốn tôi đi nhà thờ cùng với Mục sư. Tôi vào phòng tắm thay đồ, sau đó tôi mở cửa ra để tà linh đi ra khỏi và tôi đóng cửa lại. Anh Minh chồng tôi đi làm ca đêm, không tiện để tôi ở nhà một mình, nên xin ông bà Skip cho tôi tạm trú nhờ một thời gian. Tại nhà ông bà Skip, tà linh lại nhập vào tôi. Nó dùng miệng tôi nói ra một điều bí mật, mà trước đây tôi ít muốn cho người khác biết. Tên tôi không phải là Phan Kim Phượng, mà là Nguyễn Thị Quyên. Phan Kim Phượng là tên của cô gái đã qua đời tại Việt nam khi còn bé. Cô Phượng đòi lại tên của cô ta, và nếu tôi trả lại tên cho cô ta, trong hai tuần sau tôi sẽ lành bịnh. Biết đây là sự thật, tôi và chồng tôi đồng ý trả tên lại. Chúng tôi mời Mục sư đến và ông cũng cho biết điều này và cũng cho người khác biết rằng tên tôi không phải là Phan Kim Phượng nữa, mà là Nguyễn Thị Quyên. Lúc này tôi vẫn còn nhức đầu và mất hẳn trí nhớ. Tôi như trẻ con một hai tuổi, chỉ nói được những câu ngắn, không hiểu được nhnữg câu nói dài, không nhận ra được ai cả. Các anh em, bạn hữu quen thân đến thăm, tôi không biết được tên của một người nào. Thấy thân thể tôi bình thường,nhưng lại đâu đầu và mất hết trí nhớ. Chồng tôi đem tôi đến bệnh viện Harborview, Seattle, WA. Tại đây bác sĩ không tìm ra được tôi có bệnh gì, nên cho tôi về.&lt;br /&gt;Có một biến cố đối với tôi là thật, rõ ràng và quan trọng. Khi kể ra có lẽ bạn cho là khó tin. Nhưng dù bạn có tin hay không tin, tôi xin trình bày vì Chúa muốn tôi kể ra. Khi tôi bị bịnh, lúc còn tạm trú tại nhà ông bà Skip. Một đêm khuya, khoảng 12 đêm, tôi thấy Chúa hiện ra, Ngài đi vào các phòng, ông bà Skip đã ngủ. Chúa đã nói chuyện với tôi, và cho tôi biết tôi sẽ lành bịnh. Ngài bảo tôi đừng lo sợ và hãy an tâm. Hãy nói với Mục sư rằng con sẽ lành bịnh, để ông khỏi lo lắng. Chúa cõng tôi đi trên một vùng trời đầy mưa. Tôi nói với Chúa rằng mưa quá Chúa ơi. Chúa bảo đừng sợ, rồi Ngài đưa tay ra, mưa bèn dứt. Tôi muốn lưu Chúa ở lại, nhưng Ngài từ chối và bảo rằng Ngài bận đi chưa bịnh cho nhiều người khác. Khi Chúa đi rồi, anh Minh chồng tôi lúc đó còn thức, đã nghe được những câu nói của tôi, đã xác nhận tôi đã nói chuyện với một người xưng là Chúa. Chồng tôi chỉ nghe lời tôi nói mà thôi, giống như một người nghe người khác nói chuyện qua điện thoại. Với sự hiện ra của Chúa này, đã giúp tôi giải đáp một câu hỏi lớn, là tại sao cuộc đời tôi từ nhỏ đến lớn không làm điều ác đức nào lại gặp quá nhiều khổ nạn, đau buồn. Tà linh xâm nhập vào tôi, nhưng Chúa thương tôi, Ngài chăm sóc tôi và quyền năng của Chúa mạnh hơn nó, đã đuổi nó ra khỏi tôi. Tôi cảm ơn Ngài.&lt;br /&gt;Ông bà Skip phải đi xa, chồng tôi đi làm đêm, tôi không thể ở nhà một mình. Ông bà Mục sư Nguyễn Hữu Trang đã cho tôi về tạm trú tại nhà ông bà. Tại đây mỗi ngày, Mục sư cầu nguyện cho tôi và khuyến khích tôi đọc Kinh Thánh và cầu nguyện. Trí nhớ tôi vẫn chưa bình phục, giống như em bé. Ai hỏi tôi mấy tuổi, tôi liền trả lời bốn tuổi. Chỉ biết tên những người trong nhà, ngoài ra không nhớ, không biết ai nữa. Không biết sợ lửa, không biết sử dụng dao, kéo và các vật dụng bén nhọn khác. Cái gì tôi cũng có thể bỏ vào miệng và nuốt cả. Không phân biệt được cái gì là nguy hiểm, độc địa. Vài tuần sau tôi khỏi dần, nhưng ma quỷ vẫn chưa buông tha tôi và muốn làm hại tôi.&lt;br /&gt;Một buổi trưa nọ, tại nhà Ông Mục sư, chồng tôi làm ca đem nên vẫn còn ngủ. Cả nhà đi vắng, tôi thấy có ba, bốn người đến rũ tôi đi chơi. Họ nói trong trí và tôi đã nghe theo. Đang mặc đồ ngủ trong nhà. Mở cửa sau, tôi bước xuống đường cùng đi với họ. Họ dẫn tôi đi ngất nga ngất ngưỡng ngoài đường, họ xúi tôi đến thùng thư bên đường và lấy thư quăng bỏ đi, tôi không làm theo. Họ dẫn tôi vào một cửa tiệm Seven Eleven, xúi tôi bốc kẹo trong quầy hàng, bóc ra ăn, người bán hàng không cho. Tôi vừa đi vừa lẩm nhẫm như nói chuyện với người nào. Họ dẫn tôi đến xa lộ 509, đây là một xa lộ rất đông đúc xe cộ vào buổi chiều thứ sáu. Tôi bước vào xa lộ không chút do dự, không sợ hãi, đi nghênh ngang giữa đường. Tất cả xe cộ đang chạy dập dìu đều thắng lại, có nhiều chiếc phải lách bên trái, bên phải làm tình trạng trở nên hổn loạn,còi xe kêu inh ỏi. Tại đây những tà linh biến mất, tôi thấy mình trơ trọi giữa xa lộ kinh hoàng. Cảnh sát đến hướng dẫn xe và đưa tôi vào lề đường. Bây giờ trí óc tôi đã trở lại bình thường, và tà linh đã đi khỏi. Tôi tìm đường đi bộ về nhà chị của chồng tôi cách đó chừng bốn dặm. Nhà không có ai, tôi ngồi trước cửa. Nhìn xuống chân mình thấy chảy máu, vì tôi không mang giày. Tôi lạnh run lên, vì không mặc áo ấm giữa mùa đông giá buốt ở vùng Tây bắc Hoa kỳ&lt;br /&gt;Chồng tôi khi thức dậy,không thấy tôi nên đi tìm,nhưng không thấy tôi ở đâu, bèn nhờ cảnh sát tìm giúp. Sau đó chồng tôi đến nhà người chị và gặp tôi, anh đem tôi trở về nhà ông bà Mục sư. Ông Mục sư cầu nguyện xin Chúa bảo vệ tôi, và dặn tôi khi có ai đến rũ tôi đi, thì hãy cầu nguyện nhơn danh Chúa Jesus đuổi nó lui khỏi. Tôi đã làm theo, quỷ không rũ tôi đi nữa.&lt;br /&gt;Vào ngày thứ tư, 10/11/1993,sau khi đi thăm một người bạn, về nhà tôi cảm thấy hơi đau đầu. Tôi vào phòng riêng thay đồ và lấy Kinh Thánh ra đọc. Đang lúc đọc Kinh Thánh, tôi thấy tối đen,giống như một chiếc áo từ đâu bay đến phủ cả đầu tôi. Tôi đau đầu kinh khủng, tôi ôm đầu và la lên. Từ đó tôi không biết gì nữa. Sau này một anh thanh niên tên Hòa sống trong nhà và Mục sư kể lại rằng: Khi Mục sư đang chuẩn bị đi thăm một gia đình ở Federal Way, WA, Mục sư phải hoãn lại và dìu tôi vào phòng khách. Tại đây Ông và anh Hòa cầu nguyện, nhân danh Chúa Jesus ra lệnh tà linh ra khỏi tôi. Quỷ nói với tôi, nếu không cho nó nhập vào, nó sẽ giết chết chồng tôi đang ở xưỡng làm, và giết chết bà Mục sư đang trên xa lộ về. Tôi không muốn cho nó nhập vào, cũng không nó làm hại chồng tôi và bà Mục sư, là người tôi yêu mến. Tôi la lên: “Đừng hại anh Minh, đừng giết bà Mục sư”. Mục sư nghe thế liền trấn an: “Không ai có quyền hại một tín hữu, một con cái của Chúa. Vì chính Chúa sẽ sai thiên sứ của Ngài bảo vệ, gìn giữ họ. Không ai có quyền hại Minh và nhà tôi, vì họ thuộc về Chúa Jesus. Thánh Linh Chúa và Thiên sứ của Ngài sẽ bảo che và dẫn dắt họ bình an,con đừng sợ”. Mục sư cùng các anh em tín hữu khác như anh Thảo, anh Hòa cầu nguyện, hát thánh ca số 309, ca ngợi quyền năng huyết báu Chúa Jesus, hát ha-lê-lu-gia và nhân danh Chúa Jesus đuổi quỷ ra lần nữa. Lần này quỷ ra khỏi. Tôi tỉnh lại, cùng với Mục sư cùng các anh em hát mạnh hơn và vui mừng vì Chúa đã cứu mình thoát khỏi sự xâm nhập của tà linh.&lt;br /&gt;Một thời gian ngắn ở tạm nhà Ông Mục sư, trí nhớ tôi lần lần phục hồi. Ông bà Mục sư mỗi ngày nói chuyện với tôi, gợi cho tôi nhớ lại, khích lệ tôi, kể những việc đã xảy ra từ khi tôi còn bé cho đến khi lớn khôn. Tôi nghe nhạc Thánh ca, được khuyến khích đọc Kinh Thánh, cầu nguyện thường xuyên, tâm trí tôi trở lại bình thường.&lt;br /&gt;Vợ chồng tôi dọn ra ở một căn hộ khác. Ngày nay, Chúa cho chúng tôi khỏe mạnh, bình an, vui vẻ, và tôi đã đi làm trở lại. Mỗi tuần đi nhà thờ thờ phượng Chúa, tham gia vào ban hát lễ ca ngợi Ngài.&lt;br /&gt;Thưa các bạn, Chúa Jesus thật kì diệu quá cho tôi. Tôi không đủ ngôn từ để ca ngợi và cảm ơn Ngài. Tôi xin viết lời làm chứng này để bày tỏ tấm lòng biết ơn Chúa và giới thiệu Chúa cho các bạn. Chúa đã làm một việc lớn cho đời sống tôi, Ngài có thể làm cho bạn. Mong bạn đến với Ngài.&lt;br /&gt;http://www.mytnpa.org/index.php?option=com_content&amp;task=view&amp;id=600&amp;Itemid=41  &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/1383639910623827964-6613725805390861214?l=trungfq.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel="replies" type="application/atom+xml" href="http://trungfq.blogspot.com/feeds/6613725805390861214/comments/default" title="Đăng Nhận xét" /><link rel="replies" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/02/quyen-nang-chua-uoi-ta-linh.html#comment-form" title="0 Nhận xét" /><link rel="edit" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/6613725805390861214?v=2" /><link rel="self" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/6613725805390861214?v=2" /><link rel="alternate" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/02/quyen-nang-chua-uoi-ta-linh.html" title="Quyền Năng Chúa Đuổi Tà Linh" /><author><name>Phạm Quang Trung</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14901332933612324160</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel="http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail" width="32" height="24" src="http://3.bp.blogspot.com/---EG_fDe9VI/TvB1ij_Gm0I/AAAAAAAAALg/BW3RCHyMMrg/s220/TRUNG.jpg" /></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry gd:etag="W/&quot;C0QBSHY8cCp7ImA9WhRbGEw.&quot;"><id>tag:blogger.com,1999:blog-1383639910623827964.post-8239853363364113049</id><published>2012-02-10T01:06:00.001+07:00</published><updated>2012-02-10T01:15:59.878+07:00</updated><app:edited xmlns:app="http://www.w3.org/2007/app">2012-02-10T01:15:59.878+07:00</app:edited><category scheme="http://www.blogger.com/atom/ns#" term="Thờ cúng tổ tiên" /><title>Tại Sao Người Tin Chúa Không Thờ Cúng Tổ Tiên</title><content type="html">Người tin Chúa không thờ cúng ông bà cha mẹ vì những lý do sau:&lt;br /&gt;1. Theo Lời Chúa dạy, hiếu kính cha mẹ không có nghĩa là thờ cúng hay thờ lạy cha mẹ.&lt;br /&gt;Khi Chúa phán: "Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi", Ngài không hàm ý là chúng ta phải cúi lạy cha mẹ khi cha mẹ còn sống, hay thờ cúng khi cha mẹ đã qua đời. Con người không thể thờ lạy con người, dù cho người đó là ông bà, cha mẹ hay tổ tiên của mình. Chúng ta cũng không thể đặt cha mẹ lên trên Chúa hoặc ngang hàng với Chúa. Chúa Giê-xu phán: "Ai yêu cha mẹ hơn ta thì không đáng cho ta" (Ma-thi-ơ 10:37a). Lập bàn thờ cho cha mẹ khi cha mẹ đã chết cũng không phải là cách duy nhất để tỏ lòng hiếu thảo. Cách tốt nhất để tỏ lòng hiếu thảo với cha mẹ khi cha mẹ đã qua đời là sống thế nào để danh tiếng của cha mẹ được người chung quanh tôn trọng. Nếu chúng ta thờ cúng ông bà hay cha mẹ là chúng ta phạm tội với Chúa, vì chúng ta không thể "thờ phượng tạo vật thay cho Tạo Hoá, là Đấng đáng được tôn thờ muôn đời" (Rô-ma 1:25, Bản Diễn Ý).&lt;span class="fullpost"&gt;2. Con người không được thờ một ai khác ngoài Chúa.&lt;br /&gt;Trong điều răn thứ nhất, Đức Chúa Trời phán: "Trước mặt ta, ngươi chớ có các thần khác". Giới răn nầy cho thấy, chúng ta không được phép thờ lạy một ai khác ngoài Đức Chúa Trời, là Đấng Tạo Hoá. Con người do Chúa tạo dựng nên phải thờ Chúa và chỉ thờ một mình Ngài mà thôi. Nếu chúng ta thờ bất cứ một thần nào hay người nào khác là chúng ta đã phạm tội với Chúa. Đức Chúa Trời muốn con người thờ Ngài cách tuyệt đối. Trong Thánh Kinh Cựu Ước, Chúa phán: "Ngươi phải hết lòng, hết ý, hết sức kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi" (Mác 12:30). Chúa cũng dạy: "Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trơi ngươi, tức là Đức Chúa Trời kỵ tà. Hễ ai ghét ta, ta sẽ nhơn tội tổ phụ phạt lại con cháu đến ba bốn đời và sẽ làm ơn đến ngàn đời cho những kẻ yêu mến ta và giữ gìn các điều răn ta" (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:5-6).&lt;br /&gt;3. Người đã chết không thể hưởng hay nhận điều gì nơi người còn sống.&lt;br /&gt;Khi cha mẹ còn sống, nếu chúng ta làm cho cha mẹ vui vẻ, thoả lòng; đó là chúng ta đã hiếu kính cha mẹ và làm trọn điều răn của Chúa. Còn lúc cha mẹ đã qua đời, chúng ta không thể làm gì được nữa, vì lúc đó cha mẹ chúng ta đã bước vào một thế giới khác. Tác giả sách Truyền Đạo khuyên như sau: "Mọi việc tay ngươi làm được, hãy làm hết sức mình; vì dưới âm phủ là nơi ngươi đi đến chẳng có việc làm, chẳng có mưu kếm cũng chẳng có tri thức, hay là sự khôn ngoan" (Truyền Đạo 9:10). Qua câu nầy, chúng ta thấy khi còn sống, chúng ta có thể toan tính và thực hiện việc nầy việc kia, nhưng khi đã chết, chúng ta không còn cơ hội để làm điều gì nữa. Người đã chết không thể làm gì được, mà người còn sống cũng không thể làm gì cho người đã chết, kể cả việc cúng kiến hay cầu nguyện cho họ. Vì thế, nếu chúng ta thật lòng yêu thương và kính trọng cha mẹ, hãy làm cho cha mẹ vui lòng khi cha mẹ còn ở bên cạnh chúng ta. Nhiều người, lúc cha mẹ còn sống thì hất hủi, không tôn kính và không yêu thương; nhưng khi cha mẹ chết rồi thì cúng những món ngon vật lạ. Điều đó thật chẳng ích lợi gì!&lt;br /&gt;Trong những dịp giỗ kỵ, dù chúng ta cúng bằng cách nào đi nữa, ông bà cha mẹ cũng không thể hưởng được. Thật ra, việc cúng kiến trong ngày giỗ là dịp để người trong gia đình họp mặt và thoả lòng vì thấy mình đã làm trọn chữ hiếu, hơn là để cho người đã khuất được hưởng. Tuy nhiên, nếu con cháu chỉ một năm họp mặt một vài lần để lo việc cúng giỗ, còn suốt cả năm chung sống với nhau trong ganh ghét, đố kỵ thì việc cúng giỗ đó cũng chẳng có ý nghĩa gì. Vì thế, điều quan trọng là chúng ta phải sống với nhau trong thành thật, yêu thương, kính trên nhường dưới, để gia đình và dòng họ được tiếng thơm. Đó mới thật sự là hiếu kínhh cha mẹ.&lt;br /&gt;(còn tiếp)&lt;br /&gt;http://www.cdn5t.net/Tim_Hieu_Niem_T...fd31f06852e676 &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/1383639910623827964-8239853363364113049?l=trungfq.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel="replies" type="application/atom+xml" href="http://trungfq.blogspot.com/feeds/8239853363364113049/comments/default" title="Đăng Nhận xét" /><link rel="replies" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/02/tai-sao-nguoi-tin-chua-khong-tho-cung.html#comment-form" title="0 Nhận xét" /><link rel="edit" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/8239853363364113049?v=2" /><link rel="self" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/8239853363364113049?v=2" /><link rel="alternate" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/02/tai-sao-nguoi-tin-chua-khong-tho-cung.html" title="Tại Sao Người Tin Chúa Không Thờ Cúng Tổ Tiên" /><author><name>Phạm Quang Trung</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14901332933612324160</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel="http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail" width="32" height="24" src="http://3.bp.blogspot.com/---EG_fDe9VI/TvB1ij_Gm0I/AAAAAAAAALg/BW3RCHyMMrg/s220/TRUNG.jpg" /></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry gd:etag="W/&quot;CkAHR3YzcSp7ImA9WhRbGEw.&quot;"><id>tag:blogger.com,1999:blog-1383639910623827964.post-6297111948262532346</id><published>2012-02-10T01:04:00.000+07:00</published><updated>2012-02-10T01:05:36.889+07:00</updated><app:edited xmlns:app="http://www.w3.org/2007/app">2012-02-10T01:05:36.889+07:00</app:edited><category scheme="http://www.blogger.com/atom/ns#" term="Thờ cúng tổ tiên" /><title>Người Tin Lành và lòng tôn kính cha mẹ</title><content type="html">Dẫn nhập&lt;br /&gt;Xưa nay, người Tin Lành Việt Nam thường bị đồng hương hiểu lầm là "theo Tin Lành bỏ ông bà, cha mẹ." Lý do của sự hiểu lầm này là vì người Tin Lành không cúng giổ, không lập bàn thờ ông bà, cha mẹ. Sự cúng giổ hay lập bàn thờ chỉ là một trong các hình thức biểu lộ lòng tôn kính, hiếu thảo của con cháu đối với tổ tiên theo truyền thống văn hóa Việt Nam. Không cúng giổ hay không lập bàn thờ tổ tiên không có nghĩa là không biết tôn kính, hiếu thảo đối với tổ tiên. Chẳng ai cho rằng các dân tộc âu Mỹ không biết tôn kính, hiếu thảo với cha mẹ, ông bà vì họ không có văn hóa cúng giổ và lập bàn thờ như dân Việt. &lt;span class="fullpost"&gt;Thật ra, Đức Chúa Trời ra lệnh cho loài người phải tôn kính cha mẹ. Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời ban cho nhân loại, là mười mệnh lệnh của Ngài về mối quan hệ giữa loài người với Đức Chúa Trời và giữa loài người với nhau. Trong mối quan hệ giữa loài người với Đức Chúa Trời, loài người phải tôn kính Ngài trên hết mọi sự, và thờ phượng chỉ một mình Ngài mà thôi. Trong mối quan hệ giữa loài người với nhau, loài người phải tôn trọng và yêu thương lẫn nhau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thế gian đã bị băng hoại vì tội lỗi và Thánh Kinh cho biết: "Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật, và rất là xấu xa; ai có thể biết được?" (Giê-rê-mi 17:9) Vì thế, ngay trong mối quan hệ vô cùng thiêng liêng và huyền nhiệm, mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, khởi đầu cho mọi mối quan hệ khác giữa chúng ta và xã hội: tội lỗi cũng đã làm cho vẩn đục. Thực tế cho thấy có nhiều bậc cha mẹ không hề làm tròn thiên chức. Thực tế cho thấy có nhiều bậc cha mẹ lạm dụng và đối xử ác độc với con cái. Và ngược lại, có nhiều con cái đối xử với cha mẹ cũng y như vậy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã ban hành luật pháp và điều răn của Ngài để nhắc nhở loài người tiêu chuẩn thánh khiết của Ngài. Trong sáu mệnh lệnh của Đức Chúa Trời về mối quan hệ giữa người với người, mệnh lệnh đầu tiên là: "Hãy tôn kính cha mẹ ngươi!" (Thánh Kinh Việt ngữ, bản dịch Phan Khôi dịch là "hiếu kính.") Có thể nói, nếu chúng ta không làm tròn mệnh lệnh tôn kính cha mẹ thì không khi nào chúng ta có thể làm tròn các mệnh lệnh còn lại trong mối quan hệ giữa chúng ta và xã hội, bởi vì, qua mối quan hệ với cha mẹ, chúng ta học biết cách quan hệ đúng với xã hội.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;ý nghĩa của sự tôn kính&lt;br /&gt;"Hãy tôn kính cha mẹ ngươi" là một mệnh lệnh của Đức Chúa Trời. Điều đó có nghĩa là hoặc chúng ta tuân theo, hoặc chúng ta chống nghịch. Chúng ta không có sự chọn lựa nào khác và cũng không được phép lý luận. Chúa không phán bảo: "Hãy tôn kính cha mẹ ngươi nếu cha mẹ ngươi làm tròn bổn phận của họ, nếu cha mẹ ngươi yêu thương ngươi, nếu cha mẹ ngươi cư xử công bình với ngươi, nếu cha mẹ ngươi là những người đạo đức, gương mẫu..." Điều kiện duy nhất để chúng ta tôn kính cha mẹ là vì họ là cha mẹ của chúng ta, và lý do duy nhất để chúng ta tôn kính cha mẹ là vì đó là ý chỉ của Đức Chúa Trời.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôn kính là thái độ phải có của loài người đối với Đức Chúa Trời, của con cái đối với cha mẹ, và của mỗi người đối với thẩm quyền Đức Chúa Trời đặt để trên mình. Chữ "tôn kính" trong nguyên tác của Thánh Kinh có nghĩa là tôn trọng và vâng phục. Sự tôn kính không phải chỉ được bày tỏ bằng lời nói mà còn phải thể hiện bằng việc làm. Đức Chúa Trời đã từng quở trách dân Israel và các thầy tế lễ của họ như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Con trai tôn kính cha mình, đầy tớ tôn kính chủ mình. Vậy nếu ta là cha, nào sự tôn kính thuộc về ta ở đâu? và nếu ta là chủ, nào sự kính sợ ta ở đâu? Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy cùng các ngươi, hỡi các thầy tế lễ khinh dể danh ta! Các ngươi lại nói rằng: Chúng tôi có khinh dể danh Ngài ở đâu?" (Ma-la-chi 1:6)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1. Tôn kính cha mẹ là tôn trọng và cung kính cha mẹ:&lt;br /&gt;Sự tôn kính cha mẹ được thể hiện trước hết là qua thái độ của chúng ta đối với cha mẹ. Đối với những bậc trưởng thượng, Đức Chúa Trời đã dạy chúng ta tôn trọng và cung kính họ:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Trước mặt người tóc bạc, ngươi hãy đứng dậy, kính người già cả, và kính sợ Đức Chúa Trời ngươi. Ta là Đức Giê-hô-va." (Lê-vi Ký 19:32)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thái độ tôn trọng và cung kính đó cũng là điều chúng ta phải có đối với cha mẹ. Vì thế, chúng ta không thể cư xử với cha mẹ như ngang hàng với mình chứ đừng nói là thiếu tôn kính, thiếu lễ độ. Chúng ta tôn trọng và cung kính cha mẹ vì họ là cha mẹ của chúng ta chứ không phải vì họ có phẩm chất đạo đức xứng đáng để chúng ta tôn trọng và cung kính. Nhiều người biện minh cho sự thiếu lễ độ của họ đối với cha mẹ bằng cách nêu ra những khuyết điểm hay những lỗi lầm của cha mẹ. Dù cha mẹ chúng ta có bao nhiêu khuyết điểm hay lỗi lầm thì cũng không làm thay đổi sự kiện họ là cha mẹ của chúng ta. Và nếu họ là cha mẹ của chúng ta thì mệnh lệnh của Đức Chúa Trời ban cho chúng ta là chúng ta phải tôn kính họ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hình phạt dành cho những đứa con không tôn trọng và cung kính cha mẹ là sự chết:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Kẻ nào đánh cha hay mẹ mình, sẽ bị xử tử." (Xuất ê-díp-tô Ký 21:15)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Kẻ nào mắng cha hay mẹ mình, sẽ bị xử tử." (Xuất ê-díp-tô Ký 21:17)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Khi một người nào chửi cha mắng mẹ mình, thì phải bị xử tử: nó đã chửi rủa cha mẹ; huyết nó sẽ đổ lại trên mình nó." (Lê-vi Ký 20:9)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Đáng rủa sả thay người nào khinh bỉ cha mẹ mình! Cả dân sự phải đáp: A-men!" (Phục Truyền Luật Lệ Ký 27:16)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Ngọn đèn của kẻ rủa cha mẹ mình sẽ tắt giữa vùng tăm tối mờ mịt." (Châm Ngôn 20:20)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2. Tôn kính cha mẹ là vâng phục cha mẹ trong Chúa:&lt;br /&gt;"Hỡi kẻ làm con cái, hãy vâng phục cha mẹ mình trong Chúa, vì điều đó là phải lắm." (ê-phê-sô 6:1)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Hỡi kẻ làm con, mọi sự hãy vâng phục cha mẹ mình, vì điều đó đẹp lòng Chúa." (Cô-lô-se 3:20)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vâng phục cha mẹ cũng như vâng phục bất kỳ một thẩm quyền nào Chúa đặt để trên mình không phải là một sự vâng phục mù quáng. Sự vâng phục đó phải được đặt trên nền tảng của lời Chúa, vì vậy, Phao-lô mới viết rằng: "Hỡi kẻ làm con cái, hãy vâng phục cha mẹ mình trong Chúa." Những câu Thánh Kinh sau đây giới hạn sự vâng phục của chúng ta đối với loài người:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Thà phải vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn là vâng lời người ta." (Công Vụ Các Sứ Đồ 5:29)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Còn bây giờ, có phải tôi mong người ta ưng chịu tôi hay là Đức Chúa Trời? Hay là tôi muốn đẹp lòng loài người chăng? Ví bằng tôi còn làm cho đẹp lòng loài người, thì tôi chẳng phải là tôi tớ của Đấng Christ." (Ga-la-ti 1:10)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vâng phục cha mẹ trong Chúa là vâng lời cha mẹ trong mọi sự miễn là sự vâng lời đó không chống nghịch lại lời Chúa. Sự vâng phục đòi hỏi một sự trả giá và nhiều khi cái giá để trả vô cùng to lớn. Thánh Kinh khuyên chúng ta học lấy gương vâng phục của Đấng Christ:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"5 Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có, 6 Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; 7 chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; 8 Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự." (Phi-líp 2:5-8)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Đoạn, Ngài theo về thành Na-xa-rét và chịu lụy cha mẹ." (Lu-ca 2:51)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi cha mẹ có những ý muốn hoàn toàn trái nghịch lại lời Chúa, chúng ta được phép không vâng theo những ý muốn sai trái, tội lỗi đó nhưng không có nghĩa là chúng ta có thể bất kính với họ. Thái độ và lời nói của chúng ta đối với cha mẹ và những bậc có thẩm quyền Chúa đặt để trên mình phải luôn luôn mềm mại, hòa nhã. Bất kỳ một lời nói, một thái độ hỗn hào, vô lễ nào của chúng ta đối với cha mẹ đều là tội chết trước mặt Đức Chúa Trời mà Ngài đã nhều lần cảnh cáo trong Thánh Kinh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hình phạt dành cho những đứa con không vâng lời cha mẹ là sự chết:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"18 Khi ai có một đứa con khó dạy và bội nghịch, không nghe theo lời cha mẹ, và mặc dầu bị trừng trị, nó vẫn không khứng vâng lời, 19 thì cha mẹ phải bắt nó dẫn đến trước mặt các trưởng lão của thành mình, tại nơi cửa thành. 20 Đoạn, cha mẹ sẽ nói cùng các trưởng lão của thành mình rằng: Nầy con chúng tôi khó dạy và bội nghịch, không vâng lời chúng tôi, làm kẻ hoang đàng say sưa. 21 Bấy giờ, chúng dân thành ấy sẽ ném đá cho nó chết; như vậy ngươi sẽ cất sự ác khỏi giữa mình, và cả Y-sơ-ra-ên sẽ hay điều đó mà bắt sợ." (Phục Truyền Luật Lệ Ký 21:18-21)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3. Tôn kính cha mẹ là phụng dưỡng cha mẹ trong tuổi già của họ:&lt;br /&gt;"Con cháu trước phải học làm điều thảo đối với nhà riêng mình và báo đáp cha mẹ; vì điều đó đẹp lòng Đức Chúa Trời." (1 Ti-mô-thê 5:4)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chữ "báo đáp" trong nguyên tác có nghĩa là "trả món nợ mà mình thiếu". Nhiều người bỏ mặc cha mẹ không chăm sóc, không báo đáp và viện cớ rằng họ đã dâng hiến cho Đức Chúa Trời nên không còn tài vật để nuôi cha mẹ. Đức Chúa Jesus đã lên án thái độ giả hình này:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"4 Vì Đức Chúa Trời đã truyền điều răn nầy: Phải hiếu kính cha mẹ ngươi; lại, điều nầy: Ai mắng nhiếc cha mẹ thì phải chết. 5 Nhưng các ngươi lại nói rằng: Ai nói cùng cha mẹ rằng: Những điều mà tôi có thể giúp cha mẹ, đã dâng cho Đức Chúa Trời rồi, thì người ấy không cần phải hiếu kính cha mẹ. 6 Như vậy, các ngươi đã vì lời truyền khẩu mình mà bỏ lời Đức Chúa Trời. 7 Hỡi kẻ giả hình! ê-sai đã nói tiên tri về các ngươi phải lắm, mà rằng: 8 Dân nầy lấy môi miếng thờ kính ta; Nhưng lòng chúng nó xa ta lắm. 9 Sự chúng nó thờ lạy ta là vô ích, Vì chúng nó dạy theo những điều răn mà chỉ bởi người ta đặt ra." (Ma-thi-ơ 15:4-9)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày nay, vẫn có nhiều con dân Chúa tự hào dâng hiến rời rộng cho Đức Chúa Trời nhưng họ thật sự không màng đến những thiếu thốn vật chất của cha mẹ. Nhiều người thậm chí bắt cha mẹ phải làm việc trong nhà như đày tớ để đổi lại miếng cơm manh áo mà họ ban bố cho cha mẹ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4. Tôn kính cha mẹ không phải là biến cha mẹ thành thần linh&lt;br /&gt;Thực tế, có những người không hề vâng lời hoặc tôn kính cha mẹ khi cha mẹ còn sống, nhưng khi cha mẹ qua đời thì lại làm giỗ cúng trọng thể, xây mồ mã đồ sộ, tốn kém, để được người đời khen là "có hiếu." Có những người, khi cha mẹ còn sống phải nhờ đến sự chăm sóc, phụng dưỡng của họ, nhưng khi cha mẹ qua đời, họ lại tin rằng cha mẹ có thể "phù hộ" cho họ nên họ lập bàn thờ để thờ lạy cha mẹ như những phúc thần.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Văn hóa Việt Nam đề cao và phát huy lễ nghĩa là một điểm tốt nhưng khi lễ nghĩa biến thành sùng bái, thần thánh hóa các bậc trưởng thượng thì trở thành phạm thượng, nghịch lại Đức Chúa Trời. Thánh Kinh bày tỏ rất rõ ràng thánh ý của Đức Chúa Trời là Ngài không nhường sự vinh hiển cho bất kỳ một ai. Mọi sự thờ phượng chỉ dành riêng cho Ngài:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Ta là Đức Giê-hô-va; ấy là danh ta. Ta chẳng nhường sự vinh hiển ta cho một đấng nào khác, cũng không nhường sự tôn trọng ta cho những tượng chạm!" (ê-sai 42:8)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi chúng ta tôn thờ cha mẹ, tổ tiên như thần linh, xem họ như là những vị thần có thể bảo hộ, có thể ban phúc hoặc giáng họa cho chúng ta, thì chúng ta đã thần tượng hóa họ và đã đặt họ vào vị trí vinh hiển của Đức Chúa Trời. Cha mẹ, tổ tiên của chúng ta dầu tốt lành, nhân đức đến mức nào đi chăng nữa thì cũng vẫn là những tội nhân trước mặt Đức Chúa Trời. Thánh Kinh khẳng định rõ điều này:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời." (Rô-ma 3:23)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lương tâm và trí khôn của chúng ta dạy cho chúng ta biết rõ trong thế gian không hề có một người nào là toàn vẹn, vì thế mới có câu: "Nhân vô thập toàn!" Xét về mặt đạo đức thì không một người nào đáng để chúng ta thờ lạy vì ai cũng có khuyết điểm. Xét về mặt quyền năng thì chỉ có Đức Chúa Trời Toàn Năng là Đấng tạo dựng nên muôn loài vạn vật, trong đó có loài người, mới xứng đáng để chúng ta thờ lạy. Thờ lạy là hình thức tôn kính cao nhất, và vì thế chỉ có thể dành riêng cho Đức Chúa Trời mà thôi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kết luận&lt;br /&gt;"Hãy tôn kính cha mẹ" là một mệnh lệnh của Đức Chúa Trời. Và, cũng như bao nhiêu mệnh lệnh khác của Đức Chúa Trời, chúng ta không thể nào làm tròn mệnh lệnh này nếu chúng ta không thật sự ở trong Chúa, nếu chúng ta chưa thật sự được Chúa biến đổi thành một con người mới (tái sinh). Nếu chúng ta không thể tôn kính cha mẹ mình thì chắc chắn chúng ta không thể có mối tương quan tốt với những người khác trong xã hội. Một trong những phương cách vô cùng hữu hiệu để nhìn biết một người có thật sự là môn đồ của Chúa hay không, đó là quan sát cách thức họ cư xử với cha mẹ và các bậc trưởng thượng. Nếu những người chưa tin Chúa mà có thể tôn kính cha mẹ và để lại gương sáng cho xã hội như 24 người con hiếu thảo của Trung Quốc thì người Tin Lành càng phải sáng chói trong sự tôn kính cha mẹ biết là dường nào!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trên một phương diện khác, cha mẹ, tổ tiên chúng ta đều là vật thọ tạo bởi Đức Chúa Trời cho nên chúng ta không thể tôn kính họ ngang bằng với Đức Chúa Trời, nghĩa là không thờ lạy họ. Sự thờ phượng chỉ dành riêng cho Đức Chúa Trời là Cha chung của muôn loài vạn vật. Lòng tôn kính cha mẹ chân thật sẽ thể hiện trong cách cư xử của chúng ta đối với cha mẹ. Chúng ta tôn kính, vâng phục, và phụng dưỡng cha mẹ khi họ còn sống, theo như mệnh lệnh của Chúa. Khi cha mẹ qua đời, chúng ta chôn cất tử tế và chăm sóc mộ phần của họ chu đáo nhưng không phung phí tiền bạc, của cải, công sức vào việc xây mồ, đắp mã, cốt lấy tiếng khen của thế gian; cũng không lập bàn thờ để thờ lạy như thần linh; và cũng không giỗ cúng, vì người chết không thể hưởng dụng những lễ vật được cúng tế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Huỳnh Christian Timothy&lt;br /&gt;13/05/2007&lt;br /&gt;http://hoptinhhoply.net/?q=node/111 &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/1383639910623827964-6297111948262532346?l=trungfq.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel="replies" type="application/atom+xml" href="http://trungfq.blogspot.com/feeds/6297111948262532346/comments/default" title="Đăng Nhận xét" /><link rel="replies" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/02/nguoi-tin-lanh-va-long-ton-kinh-cha-me.html#comment-form" title="0 Nhận xét" /><link rel="edit" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/6297111948262532346?v=2" /><link rel="self" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/6297111948262532346?v=2" /><link rel="alternate" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/02/nguoi-tin-lanh-va-long-ton-kinh-cha-me.html" title="Người Tin Lành và lòng tôn kính cha mẹ" /><author><name>Phạm Quang Trung</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14901332933612324160</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel="http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail" width="32" height="24" src="http://3.bp.blogspot.com/---EG_fDe9VI/TvB1ij_Gm0I/AAAAAAAAALg/BW3RCHyMMrg/s220/TRUNG.jpg" /></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry gd:etag="W/&quot;CkIBQH4zfyp7ImA9WhRbGEw.&quot;"><id>tag:blogger.com,1999:blog-1383639910623827964.post-3657500846004640269</id><published>2012-02-10T01:01:00.000+07:00</published><updated>2012-02-10T01:02:31.087+07:00</updated><app:edited xmlns:app="http://www.w3.org/2007/app">2012-02-10T01:02:31.087+07:00</app:edited><category scheme="http://www.blogger.com/atom/ns#" term="Thờ cúng tổ tiên" /><title>Chữ Hiếu Trong Cơ đốc Giáo</title><content type="html">Nhiều người quan niệm rằng: Đạo Tin Lành là đạo Tây Phương, không thích hợp với người Á Đông, vì không dạy con cái hiếu kính và thờ phụng cha mẹ. Một số người khác thì nghĩ rằng khi một người tin Chúa, người đó sẽ phải lỗi đạo làm con, vì không được phép thờ cúng ông bà cha mẹ. Mới nghe qua, chúng ta thấy những lý luận trên có vẻ đúng. Tuy nhiên, nếu đọc kỹ Lời Chúa dạy (Kinh Thánh), chúng ta sẽ thấy người tin Chúa không lỗi đạo làm con, cũng không bỏ ông bỏ bà, vì Đạo Chúa luôn luôn đề cao bổn phận của con cái đối với cha mẹ. Bằng chứng là, trong sáu điều răn nói về bổn phận của con người đối với nhau, điều đầu tiên Chúa dạy: "Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi...". Điều nầy nói lên một cách mạnh mẽ rằng, đối với Chúa, trong tất cả các bổn phận của con người đối với nhau, bổn phận con cái đối với cha mẹ là bổn phận quan trọng hơn hết. &lt;span class="fullpost"&gt;Theo Nho Giáo, thứ tự ưu tiên trong đời sống con người là "quân, sư, phụ". Nghĩa là, trước hết chúng ta phải làm tròn bổn phận với vua, hay người lãnh đạo đất nước, vì đó là người thay mặt Thượng Đế để hướng dẫn chúng ta. Sau đó đến bổn phận đối với các bật thầy là người dạy dỗ ta, và cuối cùng mới đến bổn phận đối với cha mẹ. Đạo của Chúa thì ngược lại, dạy chúng ta phải chu toàn bổn phận đối với Đức Chúa Trời (Thượng Đế) trước nhất, vì Ngài là Đấng tạo dựng nên chúng ta, sau đó là bổn phận đối với cha mẹ, rồi mới đến những bổn phận khác. Điều nầy một lần nữa cho thấy, đối với Chúa, bổn phận của con cái đối với cha mẹ là bổn phận quan trọng, phải được để ý trước nhất.&lt;br /&gt;Đạo Chúa xem trọng bổn phận của người làm con, vì đây là điều căn bản, ảnh hưởng sâu đậm trên những bổn phận khác. Nếu một người không kính yêu cha mẹ và không tôn trọng thẩm quyền của cha mẹ, khi ra đời người đó sẽ không yêu thương người chung quanh và cũng không phục dưới một thẩm quyền nào. Nếu một đứa bé khi còn nhỏ không kính trọng cha mẹ, lúc đi học sẽ không kính trọng thầy giáo và khi ra đời cũng sẽ là người ngang ngược, không tuân giữ kỷ luật của xã hội, cũng không tuân phục những thẩm quyền trên mình.&lt;br /&gt;Một bằng chứng khác nữa cho ta thấy Đạo Chúa đặt nặng bổn phận của con cái đối với cha mẹ, đó là sách Châm Ngôn trong Thánh Kinh Cựu Ước chứa đầy dẫy những lời khuyên dạy con cái về cách đối xư với cha mẹ. Chúng ta hãy cùng xem một số lời dạy tiêu biểu sau đây:&lt;br /&gt;"Hỡi con, hãy nghe lời khuyên dạy của cha,&lt;br /&gt;Chớ bỏ các phép tắc của mẹ con." ( Chương 1, câu 8)&lt;br /&gt;"Hỡi các con, hãy nghe lời khuyên dạy của một người cha,&lt;br /&gt;Khá chú ý vào hầu cho biết sự thông sáng." (Chương 4 câu 1)&lt;br /&gt;"Kẻ hãm hại cha mình và xô đuổi mẹ mình&lt;br /&gt;Là một con trai gây xấu hổ, gom góp sỉ nhục." (Chương 19 câu 26)&lt;br /&gt;"Ngọn đèn của kẻ rủa cha mẹ mình&lt;br /&gt;Sẽ tắt giữa vùng tăm tối mờ mịt." (Chương 20 câu 20)&lt;br /&gt;"Hãy nghe lời cha đã sanh ra con,&lt;br /&gt;Chớ khinh bỉ mẹ con khi người trở nên già yếu." (Chương 23 câu 22)&lt;br /&gt;Trong điều răn thứ năm, Đức Chúa Trời dạy người làm con phải hiếu kính cha mẹ. Chữ "con cái" và "cha mẹ" ở đây không giới hạn tuổi tác. Nói như thế có nghĩa là một người con dù bao nhiêu tuổi cũng vẫn là con và vẫn phải hiếu kính cha mẹ. Tương tự như thế, dù cha mẹ già hay trẻ, con cái cũng phải hiếu kính.&lt;br /&gt;Thánh Kinh cho biết, những đứa con khôn ngoan là niềm vui cho cha mẹ: "Cha người công bình sẽ có sự vui vẻ lớn, và người nào sanh con khôn ngoan sẽ khoái lạc nơi nó" (Châm Ngôn 23:24). Để có thể làm vui lòng cha mẹ, trước hết chúng ta phải là người khôn ngoan. Người khôn ngoan là người như thế nào? Thánh Kinh cho biết: "Kính sợ Đức Giê-hô-va, ấy là khởi đầu sự khôn ngoan. Sự nhìn biết Đấng Thánh, đó là sự thông sáng" (Châm Ngôn 9:10). Như thế, theo lời Kinh Thánh dạy, người khôn ngoan là người kính sợ Chúa và đi trong đường lối của Ngài. Nếu chúng ta tiếp nhận Chúa làm Chủ đời sống, tôn thờ Chúa và sống theo Lời Chúa dạy, chúng ta sẽ trở nên người khôn ngoan. Người khôn ngoan là người kính sợ Chúa, vâng lời Chúa, do đó sẽ kính yêu và tôn quí cha mẹ.&lt;br /&gt;http://www.cdn5t.com/Tim_Hieu_Niem_Tin.php#View,879 &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/1383639910623827964-3657500846004640269?l=trungfq.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel="replies" type="application/atom+xml" href="http://trungfq.blogspot.com/feeds/3657500846004640269/comments/default" title="Đăng Nhận xét" /><link rel="replies" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/02/chu-hieu-trong-co-oc-giao.html#comment-form" title="0 Nhận xét" /><link rel="edit" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/3657500846004640269?v=2" /><link rel="self" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/3657500846004640269?v=2" /><link rel="alternate" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/02/chu-hieu-trong-co-oc-giao.html" title="Chữ Hiếu Trong Cơ đốc Giáo" /><author><name>Phạm Quang Trung</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14901332933612324160</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel="http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail" width="32" height="24" src="http://3.bp.blogspot.com/---EG_fDe9VI/TvB1ij_Gm0I/AAAAAAAAALg/BW3RCHyMMrg/s220/TRUNG.jpg" /></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry gd:etag="W/&quot;A04HQncyeCp7ImA9WhRbGE0.&quot;"><id>tag:blogger.com,1999:blog-1383639910623827964.post-7521245017565479026</id><published>2012-02-10T00:50:00.000+07:00</published><updated>2012-02-10T00:52:13.990+07:00</updated><app:edited xmlns:app="http://www.w3.org/2007/app">2012-02-10T00:52:13.990+07:00</app:edited><category scheme="http://www.blogger.com/atom/ns#" term="Thờ cúng tổ tiên" /><title>Chữ Hiếu</title><content type="html">Công cha như núi Thái Sơn,&lt;br /&gt;Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra&lt;br /&gt;Một lòng thờ mẹ kính cha&lt;br /&gt;Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con. &lt;span class="fullpost"&gt;Ngày Chúa Nhật thứ ba của tháng Sáu hằng năm là ngày của những bậc từ phụ, là ngày người ta dành ra để con cái nhớ đến công ơn của những người cha. Đối với người Việt chúng ta thì thực tế về “công cha như núi Thái Sơn” không phải là điều mới lạ, và mỗi chúng ta đều biết làm thế nào cho tròn chữ hiếu, làm thế nào để trọn đạo làm con. Tuy nhiên, chữ hiếu hay đạo làm con lắm khi bị giới hạn trong ý nghĩa thờ cúng người đã khuất hơn là làm những gì trong hiện tại. Một số người cũng nghĩ rằng người tin Chúa là người bỏ ông bỏ bà hay không còn hiếu kính cha mẹ nữa, thật sự không phải như vậy. Trong Mười Giới Răn Thiên Chúa ban cho con người, bốn điều đầu tiên liên quan đến bổn phận của con người đối với Thiên Chúa và sáu điều còn lại là bổn phận giữa người với người. Giới Răn đầu tiên trong bổn phận giữa người với người là Giới Răn: “Hãy hiếu kính cha mẹ!” Chữ hiếu vì vậy đứng hàng đầu trong mối quan hệ giữa người với người, theo lời dạy của Thiên Chúa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhưng hiếu hay hiếu kính nghĩa là gì? Theo nguyên ngữ, hiếu hay hiếu kính nói đến một sức nặng, hàm ý nhắc chúng ta đặt nặng vấn đề, hay đặt lên hàng đầu, hay tôn trọng, như chữ trọng trong tiếng Hán Việt cũng có nghĩa là nặng. Hiếu kính vì vậy có nghĩa là tôn trọng, hay người làm con sống đúng với vai trò và trách nhiệm của mình. Chi tiết về điều này chúng tôi đã giải nghĩa rõ ràng trong quyển “Chữ Hiếu Trong Cơ-đốc Giáo,” nếu quý vị muốn có để đọc thêm, xin liên lạc với chúng tôi theo địa chỉ sẽ được loan báo ở cuối chương trình. Trở lại với chữ hiếu trong mối quan hệ hằng ngày, chúng tôi muốn nói đến điều sau đây:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bạn và tôi hãy cùng nhau suy nghĩ điều nầy. Trong đời sống hằng ngày vấn đề then chốt của chúng ta là gì? Tôi thấy rằng vấn đề then chốt của con người là những mối quan hệ. Quan hệ giữa người với người, giữa vợ với chồng, giữa cha mẹ với con cái, giữa anh chị em với nhau, giữa bạn bè, giữa những người cùng làm việc, giữa chủ nhân và công nhân, giữa thầy với trò, giữa bác sĩ với bệnh nhân, giữa người buôn bán với khách hàng, giữa người lái xe với khách bộ hành đi trên đường và ngay cả giữa chính chúng ta với bản thân chúng ta nữa. Nếu ta có cái nhìn đúng về chính mình, có mối quan hệ tốt với chính mình, không mặc cảm, đời sống sẽ dễ dàng và thoải mái. Tương tự như vậy với những mối quan hệ khác, từ cá nhân đến đoàn thể, từ cộng đồng đến xã hội, từ nước này đến nước khác. Nếu mỗi người sống với nhau trong tinh thần hòa hợp, trong mối quan hệ tốt đẹp, chúng ta sẽ có thiên đàng ngay trên trần gian này. Nhưng trên thực tế chúng ta không có điều đó. Lý do là vì những mối quan hệ bị đổ vỡ: Vợ chồng không còn thương yêu nhau, anh chị em tị hiềm nhau, bạn bè nghi kỵ nhau. Những mối quan hệ căn bản không còn bền chặt và do đó nẩy sinh ra những khó khăn khác, những vấn đề phức tạp khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trên tất cả những mối quan hệ đó là mối quan hệ quan trọng nhất: quan hệ giữa con người với Đấng Tạo Hóa. Khi mối tình Trời-người không tốt đẹp thì mọi mối quan hệ khác sẽ theo đó bị gãy đổ. Điều này xảy ra là vì Thiên Chúa chính là sự sống của con người, nói đúng hơn, Thiên Chúa là Cha của chúng ta, và chỉ khi nào chúng ta nối lại mối tình cha-con đã bị gãy đổ đó, chúng ta mới có thể giải quyết được mọi mối quan hệ khác. Thiên Chúa là Cha của chúng ta vì Ngài tạo dựng nên chúng ta, tình cảm cha-con giữa chúng ta với Chúa bị gãy đổ là vì chúng ta không sống theo lời dạy hay ý muốn của Cha chúng ta. Trong bài cầu nguyện mẫu Chúa dạy, sau khi bảo chúng ta cầu nguyện cho Danh Cha được thánh và Nước Cha được đến, Chúa bảo chúng ta cầu nguyện: “Ý Cha được nên, ở đất như trời.” Lời cầu nguyện nầy thật thích hợp trong Ngày của Những Người Cha, vì nó nhắc cho chúng ta nhớ về bổn phận cao quý nhất của con người, đó là bổn phận đối với Đấng Tạo Hóa, Đấng đã sinh thành chúng ta, ban cho chúng ta hơi thở, ban cho chúng ta sự sống. Cầu nguyện xin cho ý Chúa được nên nghĩa là chúng ta muốn thưa với Chúa rằng chúng ta sẵn sàng làm những điều Chúa muốn chúng ta làm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong mối quan hệ cha con hay nói đến chữ hiếu trong đời sống hằng ngày thì vâng lời hay vâng phục là điều đứng hàng đầu. Hiếu thảo là nói đến vâng lời. Một người con có hiếu là người con biết vâng lời, và người con không thể vâng lời nếu không biết cha mình muốn gì. Để có thể vâng lời cha, người con phải biết ý cha. Ý muốn của người cha được thể hiện trong lời nói, trong những lời sai bảo. Có những điều người con không hiểu nhưng vì biết cha lớn hơn mình, khôn hơn mình, yêu thương mình, muốn những điều ích lợi cho mình, nên người con sẵn sàng vâng lời. Mối quan hệ giữa chúng ta với Thiên Chúa cũng vậy. Ngài là Cha của chúng ta, chúng ta là con của Ngài, chúng ta có bổn phận phải vâng lời Ngài, làm theo ý Ngài, chún g ta cần luôn luôn tâm nguyện: “Ý Cha được nên, ở đất như trời.” Cầu nguyện “ý Cha được nên ở đất như trời” là cầu nguyện rằng con muốn sống trên trần gian này, làm theo những điều Chúa muốn con làm, để đời sống con luôn luôn phù hợp với chương trình và ý định của Chúa trên trời. Bạn có muốn biết chương trình và ý định của Chúa như thế nào để làm theo không? Hãy tìm đọc Lời Chúa dạy trong Kinh Thánh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lời Chúa cho chúng ta biết trong bổn phận làm người, bổn phận đầu tiên và quan trọng hơn hết là chúng ta phải kính thờ Thiên Chúa. Chúng ta kính thờ một mình Chúa vì Ngài là Đấng đã tạo dựng chúng ta và cứu rỗi chúng ta. Lời Chúa cho biết rằng chúng ta không thể tự giải thoát chính mình nhưng phải đặt lòng tin nơi Chúa Cứu Thế Giê-xu, chính là Thiên Chúa đã mang thân xác con người để chịu chết chuộc tội cho chúng ta. Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng tin Chúa không chỉ là chấp nhận có Chúa nhưng cũng có nghĩa là chúng ta ký thác cuộc đời chúng ta trong tay Chúa, để cho Ngài hướng dẫn, như đứa con nhỏ tin tưởng trong vòng tay của người cha. Khi mối quan hệ Cha-con giữa chúng ta với Thiên Chúa được tốt đẹp, mọi quan hệ khác sẽ theo đó được tốt đẹp, và đó chính là làm cho “Ý Cha được nên, ở đất như trời!”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Như đã nói ở trên, vấn đề then chốt của con người là vấn đề những mối quan hệ. Quan hệ giữa Bạn với người chung quanh như thế nào? Tốt đẹp hay có nhiều rạn nứt, đổ vỡ? Quan hệ giữa Bạn với chính mình thì sao? Bạn mang nhiều mặc cảm và dễ buồn, dễ giận, hay Bạn có cái nhìn đúng về chính mình, biết rằng Thiên Chúa tạo dựng mỗi người toàn hảo, tốt đẹp? Tôi không biết tại sao nhưng mỗi khi nói đến mối quan hệ giữa Thiên Chúa với con người, Thánh Kinh thường dùng mối quan hệ cha con để mô tả. Tôi không nghĩ đây là điều ngẫu nhiên, nhưng để cho chúng ta thấy một khuôn mẫu lý tưởng về tình phụ tử. Có những người không có mối quan hệ tốt với cha mình nên giờ đây nghĩ đến cha vẫn còn buồn, còn giận và vì vậy khó hiểu được ý niệm Đức Chúa Trời là Cha. Nhưng chúng ta phải hiểu Đức Chúa Trời là Cha chúng ta trong ý nghĩa lý tưởng: Chúa là Người Cha lý tưởng, yêu thương, nhân từ, nhưng cũng kỷ luật, sửa dạy chúng ta cách chừng mực.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thiên Chúa là Cha của chúng ta, nhưng chúng ta có ở trong mối quan hệ tốt đẹp với Người Cha đó chưa? Lời Chúa dạy: “Người nào nhận Chúa, nghĩa là đặt lòng tin nơi Chúa, Ngài sẽ ban cho quyền làm con Thiên Chúa. Làm con Thiên Chúa không phải là người sinh bởi khí huyết, hay tình dục, hay ý người nhưng sinh bởi Đức Chúa Trời.” Đặt lòng tin nơi Chúa chúng ta sẽ được sinh ra trong gia đình của Chúa, cuộc đời được tái sinh, được đổi mới. Chúng ta sẽ hưởng mọi quyền lợi của một người con, đồng thời chúng ta cũng biết trách nhiệm của một người con. Chúng ta sẽ luôn luôn tâm nguyện: “Ý Cha được nên ở đất như trời” và làm theo lời tâm nguyện đó nghĩa là làm một người con hiếu thảo với người cha trên trần thế nầy và cũng trọn một lòng kính yêu Chúa, sống đúng theo khuôn mẫu yêu thương của tình phụ tử mà Thiên Chúa đã thể hiện trong đời sống chúng ta.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mục sư Nguyễn Thỉ&lt;br /&gt;Chương Trình Phát Thanh Tin Lành&lt;br /&gt;http://tinlanh.org/index.php?option=com_content&amp;task=view&amp;id=101&amp;Itemid=99999999 &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/1383639910623827964-7521245017565479026?l=trungfq.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel="replies" type="application/atom+xml" href="http://trungfq.blogspot.com/feeds/7521245017565479026/comments/default" title="Đăng Nhận xét" /><link rel="replies" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/02/chu-hieu.html#comment-form" title="0 Nhận xét" /><link rel="edit" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/7521245017565479026?v=2" /><link rel="self" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/7521245017565479026?v=2" /><link rel="alternate" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/02/chu-hieu.html" title="Chữ Hiếu" /><author><name>Phạm Quang Trung</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14901332933612324160</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel="http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail" width="32" height="24" src="http://3.bp.blogspot.com/---EG_fDe9VI/TvB1ij_Gm0I/AAAAAAAAALg/BW3RCHyMMrg/s220/TRUNG.jpg" /></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry gd:etag="W/&quot;AkcDR3o4eCp7ImA9WhRbGE0.&quot;"><id>tag:blogger.com,1999:blog-1383639910623827964.post-6182580646708193572</id><published>2012-02-10T00:19:00.001+07:00</published><updated>2012-02-10T00:21:16.430+07:00</updated><app:edited xmlns:app="http://www.w3.org/2007/app">2012-02-10T00:21:16.430+07:00</app:edited><category scheme="http://www.blogger.com/atom/ns#" term="Thờ cúng tổ tiên" /><title>Vấn Đề Thờ Cúng Ông Bà</title><content type="html">Trong mấy mươi năm phục vụ Chúa, vài lần tôi bị ray rức với câu hỏi đơn sơ, nhưng rất khó trã lời: “Tại sao Tín Hữu Việt Nam được phép đi dự, hay nói nôm na là “Ði Ăn” Ðám Hỏi, Ðám Cưới, Ðám Tang… thì được, nhưng Ðám Giỗ thì lại không??? Nay, tôi rất vui được học lớp Thư tín Cô-rinh-tô cùng với Anh Chị Em, lại vui hơn nữa khi được phụ trách thảo luận đề tài này vì là cơ hội để học hỏi chuyên sâu hơn nữa về vấn đề mà mình còn nông cạn. Tuy nhiên, vì câu hỏi giáo sư đưa ra quá rộng lớn, nên tôi xin đặt vấn đề thảo luận gói ghém trong phần cuối câu hỏi mà thôi.Ðặt Vấn Ðề: Có người cho rằng Hội thánh nên khuyến khích tín hữu tổ chức những buổi lễ tưởng niệm công ơn ông bà cha mẹ trong tinh thần ngợi khen Chúa, để thay thế cho tục thờ cúng ông bà. &lt;span class="fullpost"&gt;A. TỤC THỜ CÚNG ÔNG BÀ TỔ TIÊN THẾ NÀO?&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Trước khi bàn về Lễ tưởng niệm, ta cần hiểu Tục Thờ Cúng Ông Bà là gì? Xin bỏ qua khía cạnh nghi lễ thiết tưởng ít nhiều ai cũng biết, chỉ xin nói về khía cạnh xuất xứ và ý nghĩa; có vậy chúng ta thảo luận dễ hơn.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Những câu ca dao tục ngữ trong kho tàng Văn Chương Việt nam phản phất một số quan điểm về Thờ cúng Tổ Tiên, mà chúng ta đã thuộc lòng từ khi còn “để chỏm” như: “Ăn trái nhớ kẻ trồng cây, uống nước thì phải nhớ nguồn” hoặc “Công cha như núi Thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra, Một lòng thờ mẹ kính cha, Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Tập quán Thờ cúng Tổ tiên ở Việt Nam đã có rất lâu, đến khi Nho giáo du nhập vào nước ta, thì tập quán này được củng cố theo học thuyết của Khổng Tử mà biến thành một lễ nghi nghiêm túc trong việc thờ tự của Văn Hóa Tín Ngưỡng Việt Nam (1).&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Ðạo hiếu: “Lòng hiếu thảo phụng sự cha mẹ lúc còn sống, tang lễ nếu cha mẹ qua đời”, như Luận ngữ đã ghi (Thiên II Vi Chính): “Sống thì lấy lễ mà thờ, chết thì lấy lễ mà táng, lấy lễ mà tế”. Lại thêm: “Hiếu để đối với cha mẹ là kính những người cha mẹ tôn trọng, yêu những người cha mẹ đã yêu mến, tế lễ những bậc cha mẹ phụng thờ” (2).&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;“Từ thời Vua Hùng dựng nước, Người Việt ta đã thờ Trời bằng Bàn Thiên để trước sân và tưởng nhớ kính thương Tổ Tiên ông bà cha mẹ bằng bàn thờ để trong nhà. Việc rước ông bà về với con cháu trong ba ngày Tết chỉ là một hành động luân lý của Ðạo Hiếu chớ không phải là việc thờ ma lạy quỷ” (3).&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Thật ra, Khổng Tử vốn chủ trương chống lại sự thờ cúng thần linh: “Hoạch tội ư thiên, vô sở đão giả”(Kẻ mắc tội với Trời, dầu cầu đảo với vị thần nào cũng không khỏi) lại tiếp: “Kính quỹ thần nhi viễn chi” (Ðối với quỹ thần thì kính nhưng nên tránh xa)(4). Khi mang bệnh nặng, Tử Lộ đề nghị làm lễ cúng tế thần linh, nhưng Khổng Tử đã nhất định từ chối (5). Trái lại, Khổng Tử chủ trương phải thờ cúng tổ tiên, và khi hành lễ phải hết lòng cung kính, xem như Ông bà Tổ tiên có mặt tại đó, nên dạy rằng: “Tế như tại” (6).&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Như vậy, Khổng tử đã dùng lễ tục thờ cúng tổ tiên làm một phương tiện dẫn dắt dân gian đến đức Hiếu, rồi đến Ðức Nhân, là lý tưởng tuyệt đỉnh của Nho Giáo. Có thể cho rằng theo Nho giáo việc thờ cúng tổ tiên chỉ là một lễ tưởng niệm vinh danh tổ tiên mà thôi (7), như Khổng tử đã dùng hai chữ : Tế “như tại”, có nghĩa là không hề có vong linh tổ tiên thật sự về dự buổi lễ, nhưng con cháu phải coi như là tổ tiên có mặt tại đó, để hành lễ một cách cung kính. Nhưng, ngày nay tinh thần đó đã phần nhiều đã mai một, từ khi có Lão giáo tràn sang nước ta, những chủ trương về tập tục thuật số, bói toán, cầu hồn và mê tín dị đoan đã xâm nhập, và làm ảnh hưởng các buổi lễ thờ cúng tổ tiên trong xã hội chúng ta cho đến ngày nay.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;B. NÊN TỔ CHỨC LỄ TƯỞNG NIỆM KHÔNG?&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;“Có người cho rằng Hội thánh nên khuyến khích Tín hữu tổ chức những buổi lễ tưởng niệm công ơn ông bà cha mẹ trong tinh thần ngợi khen Chúa, để thay thế tục thờ cúng Ông bà. . .”&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Trong thực tế, tại Việt nam vấn đề này đã gây nhiều tranh cãi. Bởi ảnh hưởng tinh thần truyền giáo của các giáo sĩ đầu tiên quá thiêng liêng, sốt sắng, khi một người tin Chúa thì liền dẹp bỏ bàn thờ Tổ tiên, đập bỏ các hình tượng trong nhà vì kể như là trước đây “thờ ma lạy quỷ”, kể cả việc cúng giỗ Ông bà cha mẹ cũng dứt khoát từ bỏ, không được tham dự (thể hiện qua các tác phẩm Hoàng tử Phi châu, Sanda Sadesin. . .)Tinh thần đó trở thành luật bất thành văn trong Hội thánh trong những buổi đầu Tin lành đến Việt nam, và đã trở thành truyền thống của Hội thánh gần nữa thế kỷ (1911-1960). Khi hoạt động của các Hệ phái Tin lành phát triển ở miền Nam Việt nam, thì việc tổ chức những buổi lễ tưởng niệm người chết, đã âm ỉ trong các Hội thánh. Tiếp đến thập niên 70- 80, Trong hoàn cảnh mới, Vấn đề trở nên nhạy cảm hơn về tinh thần mạnh mẽ truyền giảng, thực thi Ðại Mạng lịnh, nhất là hoạt động Hội thánh Tư gia phát triển mạnh, theo phương thức của Hội thánh thầm lặng đã tận dụng mọi cơ hội rao giảng Tin lành tại nhà riêng, nên đã xử dụng tổ chức Lễ tưởng niệm. Việc ấy cũng mang lại nhiều kết quả cứu người. Tuy nhiên, lúc ấy Tổng Liên Hội HTTLVN đã ra văn bản Cấm tổ chức “Ðám Giỗ Tin Lành”. Kế đến, Thập niên 90 khi nền thần học Châu Á phát triển đến Việt nam, Hội thánh được huấn luyện về Phúc âm Hội nhập Văn hóa, thì xu hướng này được mỗi Hệ phái áp dụng theo một cách riêng. Tuy nhiên trong thực tế, đã có những Mục sư quá khắc khe nghiêm cấm tín hữu tham dự “Ðám giỗ Tin lành” chớ nói chi đến việc tổ chức Lễ tưởng niệm!? Có những trường hợp Tín hữu “tin Chúa một mình”, đến ngày giỗ cha mẹ, người con mua thức ăn, hay phụ tiền chợ với gia đình cũng không được, bởi mục sư này cho rằng như vậy là cũng dự phần cúng tế hình tượng. Làm sao để bày tỏ lòng hiếu thảo đây?&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Vậy, thực tế vấn đề vẫn chưa ngã ngũ! Một số chống làm Ðám giỗ Tin Lành và một số cho rằng có thể làm Lễ Tưởng niệm được.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;C. ÐI TÌM GIẢI PHÁP&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Giải pháp khả thi nhất đến từ Lời Ðức Chúa Trời. Ðặc biệt vấn đề tương đồng mà chúng ta tìm giải pháp đã được Sứ đồ Phao-lô luận đến trong Sách Cô-rinh-tô. Hội thánh Cô-rinh-tô đã có sự phân rẽ vì vấn đề ăn của cúng thần tượng (I Côr 8-9:). Chúng ta suy gẫm về cách Phao-lô giải quyết và tìm giải pháp ứng dụng:&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Giống như các gian hàng Người Việt chúng ta, hàng hóa được dọn ra buôn bán thảy đều được cúng, với mong ước mua may bán đắt. Thậm chí nếu mở hàng mà không suông sẻ, người bán sẽ “đốt phong long” cúng mở hàng lần nữa! Còn trái cây tại nhà người ngoại thì từ nãi chuối, trái cam đều lấy trên bàn thờ mang xuống đãi khách. Cũng giống như vậy, trong xã hội ngoại giáo thời Tân Ước, hầu hết thức ăn đều có dính dáng tới sự thờ phượng của người ngoại. Thức ăn mua tại chợ thì hầu hết là phần dư thừa từ đền miếu, ăn tại nhà bạn bè thì các món cũng đã cúng tế bởi niềm tin của người ngoại giáo. Cho nên, muốn không dính líu của cúng thần tượng, Cơ Ðốc Nhân phải tự nuôi gia súc để ăn. Họ cũng phải từ chối lòng hiếu khách, tiệc tùng thân mật với người láng giềng. Cho nên, có người tại HT Cô-rinh-tô lập luận rằng”Mọi người đều hiểu biết” (8:1) Chỉ có một Ðức Chúa Trời, chẳng có thần nào khác (8:4) Nên họ cứ ăn vì cho rằng bởi chẳng có thần tượng nào nên của cúng thần tượng cũng chỉ là thức ăn thường mà thôi. Vậy thức ăn do Chúa dựng nên, họ chỉ cần cảm tạ mà nhận lãnh là được rồi (8). Phao-lô khẳng định vấn đề ở đây không phải là thức ăn như thế nào? Mà là việc ăn đó ảnh hưởng đến người khác như thế nào? Nếu vì ăn mà làm cho anh chị em vấp phạm thì tốt nhất là không nên ăn (8:7. 9. 11. 13) Có một số người lợi dụng “sự tự do” (I Côr 10:23) để ăn uống bừa bãi, đã gây ra vấp phạm, làm sa ngã đức tin những anh chị em yếu đuối. Phao-lô đã đứng trên thẩm quyền sứ đồ, lập luận trên những nguyên tắc thần học và đạo đức cơ bản, ông nói: Sự hiểu biết của người Cô-rinh-tô còn nông cạn, dễ kiêu ngạo (8:1-3) chỉ có tình yêu thương mới làm cho sự hiểu biết được trọn vẹn, cho nên người hiểu biết sẽ phải từ bỏ sự tự do cá nhân, hy sinh cho người yếu đuối khác, để họ không bị vấp phạm. Ðó là tình yêu thương và cũng chính là dấu hiệu người ta nhìn biết môn đồ Chúa (Giăng 13:35).&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Vậy, theo ý Phao-lô thì [1] Bối cảnh quyết định khi nào có thể ăn của cúng. [2] Ăn với lương tâm thanh sạch về các thức ăn được bày bán ở chợ (I Côr 10:24-26).[3] Mọi thức ăn đều có thể ăn được khi cảm tạ Chúa (I Côr 10:30), nhưng nếu đã cho biết là của cúng thì không ăn. [4] Không ăn vì lương tâm của người mời (I Côr 10: 27-30). Phao-lô giải quyết vấn đề tương đối rõ ràng tại HT Cô-rinh-tô, tuy nhiên nan đề là HT chung, nhất là tại Jêrusalem thì không chủ trương như vậy. Giáo Hội Nghị tại thành Jêrusalem đã ra một quyết định và thông báo chung có 4 điều cấm đoán: Anh em phải kiêng ăn của cúng thần tượng, huyết, thú vật chết ngột, và chớ tà dâm (Công vụ 15:29). Trong khi đó, một số nhà giải kinh cho rằng Phao-lô bất chấp lời quyết định trên của Jêruselem (Công 15:1-35) Ông không để ý đến những điều quy định này (9).&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Như vậy trong Hội thánh đầu tiên vẫn có hai quan điểm rõ rệt: Cấm vì ảnh hưởng theo Kinh luật Môi-se (Tín hữu gốc Do Thái giáo), Và có thể ăn nếu không làm vấp phạm (Phao-lô và Tín hữu gốc ngoại bang). Vậy vấn đề khác biệt không nằm trong bình diện tín lý mà thôi, nó còn ảnh hưởng khía cạnh văn hóa và bối cảnh xã hội trong sự giải quyết vấn đề mà Phao-lô đưa ra cho Người Cô-rinh-tô. Vấn đề tổ chức Lễ Tưởng Niệm Ông bà trong hoàn cảnh Hội thánh giữa xã hội Việt Nam ngày nay cũng giống như vậy.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;D. ÁP DỤNG&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Ðúc kết từ 3 phần trên, ta có:&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;A.Tinh thần “Tế nhi tại” của Khổng giáo thì khi cúng tế, chẳng có vong linh người chết tham dự, nên có thể cho rằng theo Nho giáo (nguyên thủy) việc thờ cúng tổ tiên chỉ là một lễ tưởng niệm vinh danh tổ tiên mà thôi. Văn hóa Tây Phương cũng giống điểm này. Họ còn tạc tượng, dựng bia các anh hùng, vĩ nhân, rồi đến ngày kỷ niệm, họ kéo đến dâng hoa, đốt lửa thiêng, đọc diễn văn, cung kính hành lễ, nhưng họ không bao giờ cho rằng vong linh các vị ấy đã hiện về có mặt tại nơi ấy đâu (10)&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;B.Tổ chức Lễ Tưởng Niệm có lợi nhiều hơn hại trong chiến lược rao giảng Tin lành. Trọng tâm buổi lễ là tưởng niệm công ơn của Ông bà Cha mẹ trong tinh thần ngợi khen Chúa, làm vinh hiển Danh Chúa (I Côr 10:31)&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;C.Không nên câu nệ Giáo điều và truyền thống mà bỏ qua những cơ hội cứu người (Mác 3:1-5; 2:27). Cho dù hiện nay vẫn còn những trở lực, đôi khi từ Giáo quyền, nhưng vì trách nhiệm “cứu người quan trọng hơn sự an nghĩ trong ngày Sa-bát” thì chúng ta thực hiện theo sự dạy dỗ về trọng tâm cứu người mà Chúa Jêsus đã dạy (Mác 2:27).&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;D.Quan điểm Cá nhân: Phúc Âm phải Hội nhập Văn Hóa vì tôi tin rằng Phúc Âm vượt trên Văn Hóa. Tin lành là quyền phép Ðức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin, nên chúng ta không hổ thẹn mà rao giảng (Rô-ma 1:16-17) Chúng ta tổ chức buổi lễ, rao giảng bằng đức tin, thì (Kinh thánh chép) lại dẫn đến đức tin nữa (c17). Ðừng vì lo sợ lời chỉ trích là làm “Ðám Giổ Tin Lành”. Nếu tổ chức tốt, kết quả qua buổi lễ thường đem đến sự ăn năn, sự phục hưng cho những gia đình tín hữu yếu đuối hoặc chưa tin Chúa trọn vẹn. Ðó chính là lời biện minh hùng hồn nhất.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Sau hết, tôi xin mạo muội nêu ý rằng: Tất cả Hội thánh ngày nay trên thế giới đều làm “Ðám giổ Chúa” (Ý vui!? trong hàm ý Lễ Tưởng niệm mà thôi!) mỗi tháng một lần, và mỗi năm làm đại lễ “Kỷ niệm Chúa Chết” phải không? Chúa cũng muốn chúng ta làm lễ tiệc thánh để tưởng niệm Ngài phải không? (I Côr 11:23-29; Ma-thi-ơ 26:26-29. . .) Vì Chúa đã phán “Hãy làm điều này để nhớ ta”. Ý nghĩa chữ “nhớ ta” và “tưởng niệm ta” là cùng một nghĩa, mà Kinh Thánh Bản Diễn Ý là một chứng minh (11).&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Mục sư Nguyễn Văn Ðại&lt;br /&gt;nguoichanbay.wordpress.com&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;——————————————————————————-&lt;br /&gt;SÁCH VÀ TÁC GIẢ THAM KHẢO:&lt;br /&gt;(1) Giáo sư Võ Thu Tịnh “Thờ cúng tổ tiên với công cuộc truyền đạo Cơ đốc Việt nam”&lt;br /&gt;Tạp Chí Ðức Tin. Bộ mới 2002/1. Hội thánh Tin lành Bap tít Việt Pháp Torcy, Paris.&lt;br /&gt;(2) Linh Mục Vũ Kim Chính “Ông bà Tổ Tiên- Giá trị Văn hóa của Người Việt liên hệ với việc truyền giáo” Ðại học Công Giáo Phụ Nhân, Ðài Loan, 2009.&lt;br /&gt;(3) Mục sư Nguyễn Quang Minh “Theo Ðạo Chúa không bỏ thờ phụng Tổ Tiên”&lt;br /&gt;Việt Báo Nam California, ngày 23/01/2009.&lt;br /&gt;(4) Luận ngữ: Thiên III. Bát Dật, t.13.&lt;br /&gt;(5) Luận ngữ: Thiên VII. Thuật Nhi, t.34&lt;br /&gt;(6) Luận ngữ: Thiên VI. Ung Giả, t 32.&lt;br /&gt;(7) Giáo sư Võ thu Tịnh “Vấn đề thờ cúng Tổ Tiên”&lt;br /&gt;Tạp Chí Cội Nguồn: Mái Nhà Việt Nam . Thu 2007. Hoa kỳ.&lt;br /&gt;(8) Giáo sư Kevin Quast “Các Thư Tín Cô-rinh-tô”&lt;br /&gt;Viện Thánh Kinh Thần Học UCC. Tài liệu Giáo khoa BBL 506 Xuân 2009, t,81-84.&lt;br /&gt;(9) Giáo sư Kevin Quast. T.83&lt;br /&gt;(10)Giáo sư Võ thu Tịnh “Vấn đề thờ cúng tổ tiên” t. 22.&lt;br /&gt;(11)Kinh Thánh Bản Diễn Ý, Mục sư Tiến sĩ Lê Hoàng Phu.&lt;br /&gt;http://www.songdaoonline.com/?com=vuonedenmoi&amp;mod=news&amp;news=889&lt;br /&gt; &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/1383639910623827964-6182580646708193572?l=trungfq.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel="replies" type="application/atom+xml" href="http://trungfq.blogspot.com/feeds/6182580646708193572/comments/default" title="Đăng Nhận xét" /><link rel="replies" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/02/van-e-tho-cung-ong-ba.html#comment-form" title="0 Nhận xét" /><link rel="edit" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/6182580646708193572?v=2" /><link rel="self" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/6182580646708193572?v=2" /><link rel="alternate" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/02/van-e-tho-cung-ong-ba.html" title="Vấn Đề Thờ Cúng Ông Bà" /><author><name>Phạm Quang Trung</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14901332933612324160</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel="http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail" width="32" height="24" src="http://3.bp.blogspot.com/---EG_fDe9VI/TvB1ij_Gm0I/AAAAAAAAALg/BW3RCHyMMrg/s220/TRUNG.jpg" /></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry gd:etag="W/&quot;CEICQHo7fyp7ImA9WhRbFEs.&quot;"><id>tag:blogger.com,1999:blog-1383639910623827964.post-5106813981991803067</id><published>2012-02-06T00:20:00.002+07:00</published><updated>2012-02-06T00:22:41.407+07:00</updated><app:edited xmlns:app="http://www.w3.org/2007/app">2012-02-06T00:22:41.407+07:00</app:edited><category scheme="http://www.blogger.com/atom/ns#" term="Thuyết tiến hóa" /><title>Thuyết tiến hóa: Sự thật hay sản phẩm của con người?</title><content type="html">Chúng ta từ đâu đến? Do Tiến hóa? Được Thần tạo ra? Trong nhiều năm, các nhà khoa học đã tuyên bố rằng họ có bằng chứng hóa thạch về thuyết tiến hóa, nhưng nhà sinh vật học kiêm bác sĩ, và là nhà sản xuất truyền hình ở thành phố Missouri, Tiến sĩ Carl Werner, đã dám đặt ra câu hỏi này. &lt;span class="fullpost"&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/07/Thuyet-tien-hoa-Su-that-hay-san-pham-cua-con-nguo_Tin180.com_0013.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 350px; height: 260px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/07/Thuyet-tien-hoa-Su-that-hay-san-pham-cua-con-nguo_Tin180.com_0013.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;Mô hình của chim thủy tổ này có vảy trên đầu, mặc dù các nhà khoa học chưa bao giờ tìm thấy vảy trong hóa thạch của loài này. (Ảnh do Tiến sĩ Carl Werner cung cấp)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chúng ta từ đâu đến? Do Tiến hóa? Được Thiên Chúa sáng tạo ra? Trong nhiều năm, các nhà khoa học đã tuyên bố rằng họ có bằng chứng hóa thạch về thuyết tiến hóa, nhưng nhà sinh vật học kiêm bác sĩ, và là nhà sản xuất truyền hình ở thành phố Missouri, Tiến sĩ Carl Werner, đã dám đặt ra câu hỏi này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cùng với lễ kỷ niệm lần thứ 150 cuốn sách của Charles Darwin “Nguồn gốc các loài” (On the Origin of Species – ngày 24 Tháng 11 năm 1859), Tiến sĩ Werner mới đây đã phát hành 2 tập sách đầu và một bộ phim tài liệu từ một chuỗi chương trình truyền hình thách thức Darwin – “Thuyết tiến hóa: Thử nghiệm vĩ đại”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhiều năm tìm kiếm sự thật về thuyết tiến hóa bắt đầu bằng một vụ đánh cuộc ở trường cao đẳng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Lúc đó tôi đang học cao đẳng y tế, và một người bạn đã thách thức tôi về thuyết tiến hóa. Tôi lúc đó vẫn tin vào thuyết tiến hóa”, Tiến sĩ Werner nói.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Anh ấy nói rằng những quy luật hóa học sẽ ngăn cản sự sống tự hình thành, và anh ấy đã thách thức tôi về cơ bản: ‘Làm sao điều này có thể xảy ra nếu quá trình tiến hóa vi phạm các nguyên tắc khoa học thông thường của chúng ta’. Và tôi thực sự đã phải suy nghĩ rất kỹ về điều đó, và tôi nhận ra rằng anh ấy đã chính xác về các quy luật hóa học”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kể từ đó, Werner đã tiếp tục điều mà ông gọi là “một chuyến phiêu lưu suốt đời”. Ông đọc và nghiên cứu tất cả các chủ đề ông có thể tìm thấy về sự tiến hóa, bao gồm địa chất, sinh học, cổ sinh vật học, sinh hóa, và vũ trụ học. Sau 18 năm nghiên cứu, ông tin rằng mình và vợ đã sẵn sàng để bắt đầu một loạt các thử nghiệm để kiểm tra học thuyết đã được chấp nhận rộng rãi của Darwin.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong 10 năm tiếp theo, từ 1997 tới 2007, họ đã đến các viện bảo tàng tốt nhất và các địa điểm khai quật trên toàn cầu, đã phỏng vấn các nhà khoa học hàng đầu thế giới, và chụp ảnh hàng chục nghìn hóa thạch gốc và các địa tầng hóa thạch nơi chúng được tìm thấy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Lúc đầu, tôi đã rất bối rối về chủ đề này. Điều gì đã là thật? Liệu thuyết tiến hóa có đúng hay không? Nhưng cuối cùng, giờ đây tôi đã rất hài lòng khi hiểu được những vấn đề trong thuyết tiến hóa là gì và chúng đã được phát triển ra sao”, Werner nói.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bằng chứng giá trị hơn quan điểm&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thay vì trả lời liệu sự tiến hóa là đúng hay sai trong bộ phim tài liệu của mình, Werner trình bày các vấn đề và cho phép khán giả quyết định.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các nhà khoa học đã từng xem một hóa thạch của Rodhocetus, một động vật bốn chân với cái đuôi của một con cá voi, như là bằng chứng tốt nhất của thuyết tiến hóa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên, khi Werner đến xem hóa thạch này, ông đã không thấy bất kỳ hóa thạch nào của cái đuôi con Rodhocetus. Khi được hỏi, nhà khoa học mà đã thêm cái đuôi cho con Rodhocetus trong các biểu đồ của bảo tàng đã thừa nhận rằng Rodhocetus không có đuôi hoặc chân chèo của cá voi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các vấn đề khác mà Werner chỉ ra bao gồm việc một nhà khoa học gắn đuôi của một con khủng long cho một con chim, và các viện bảo tàng gắn lông vũ cho một con khủng long, gắn thêm các vảy trên đầu của một con chim, và gắn những bàn tay và bàn chân con người cho Lucy, một hóa thạch được khắp nơi tin rằng là của một con vượn người.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tóm lại, ông nói rằng mặc dù các biểu đồ tiến hóa tại các viện bảo tàng cho rằng sự tiến hóa là sự thật, nhưng các biểu đồ này không có bằng chứng chứng minh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Về cơ bản những gì tôi đọc trong sách giáo khoa đại học mâu thuẫn với những gì tôi đã khám phá ở chính nơi chúng tôi thực hiện các cuộc phỏng vấn với các nhà khoa học đó. Như vậy, có sự khác biệt rất lớn giữa những gì đã được viết so với thực tế”, Werner nói.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Có một sự thiếu trung thực về chủ đề này ở các trường đại học. Đây là loại chủ đề bị đóng kín. Các nhà khoa học không muốn thảo luận về nó một cách công khai vì sợ hậu quả”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để mua các cuốn sách của Tiến sĩ Werner và có thêm thông tin, xin vui lòng truy cập trang web: www.TheGrandExperiment.com&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Helena Zhu&lt;br /&gt;(theo vietsoh)http://tin180.com/khoahoc/tin-khoa-hoc/20100712/thuyet-tien-hoa-su-that-hay-san-pham-cua-con-nguoi.html &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/1383639910623827964-5106813981991803067?l=trungfq.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel="replies" type="application/atom+xml" href="http://trungfq.blogspot.com/feeds/5106813981991803067/comments/default" title="Đăng Nhận xét" /><link rel="replies" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/02/thuyet-tien-hoa-su-that-hay-san-pham.html#comment-form" title="0 Nhận xét" /><link rel="edit" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/5106813981991803067?v=2" /><link rel="self" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/5106813981991803067?v=2" /><link rel="alternate" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/02/thuyet-tien-hoa-su-that-hay-san-pham.html" title="Thuyết tiến hóa: Sự thật hay sản phẩm của con người?" /><author><name>Phạm Quang Trung</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14901332933612324160</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel="http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail" width="32" height="24" src="http://3.bp.blogspot.com/---EG_fDe9VI/TvB1ij_Gm0I/AAAAAAAAALg/BW3RCHyMMrg/s220/TRUNG.jpg" /></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry gd:etag="W/&quot;C0ECSXo7eCp7ImA9WhRbFEs.&quot;"><id>tag:blogger.com,1999:blog-1383639910623827964.post-1148070120379494605</id><published>2012-02-06T00:02:00.002+07:00</published><updated>2012-02-06T00:07:48.400+07:00</updated><app:edited xmlns:app="http://www.w3.org/2007/app">2012-02-06T00:07:48.400+07:00</app:edited><category scheme="http://www.blogger.com/atom/ns#" term="Thuyết tiến hóa" /><title>Sự thật về thuyết tiến hóa: “Cây sự sống” đã sai</title><content type="html">Các hóa thạch được tìm thấy trong các khối đá thuộc kỷ Cambri gồm rất nhiều sinh vật rất khác nhau, như ốc sên, bọ ba thùy, bọt biển, con sứa, sao biển, sò ốc, vv… Hầu hết các sinh vật trong lớp địa chất này có các hệ thống phức tạp và cấu trúc cao cấp, như mắt, mang, và hệ tuần hoàn, hoàn toàn giống như trong các mẫu vật hiện đại. &lt;span class="fullpost"&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Su-that-ve-thuyet-tien-hoa-Cay-su-song-da-sai_Tin180.com_001.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 192px; height: 312px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Su-that-ve-thuyet-tien-hoa-Cay-su-song-da-sai_Tin180.com_001.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Biểu đồ “Cây sự sống” do nhà sinh học tiến hóa Ernst Haeckel đưa ra vào năm 1866.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đầu tiên chúng ta cùng xem xét giả thuyết của Haeckel. Như chúng ta biết, thuyết Darwin đề xuất rằng sự sống phát triển từ một tổ tiên chung duy nhất, và phát triển thành vô số loài khác nhau thông qua các chuỗi thay đổi nhỏ khác nhau.Trong trường hợp đó, cuộc sống đầu tiên phải xuất hiện các giống loài đơn giản và rất giống nhau. Và theo lý thuyết đó, sự khác biệt giữa các loài, và sự phức tạp ngày càng tăng ở các sinh vật phải xảy ra song song với nhau theo thời gian.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nói tóm lại, theo thuyết Darwin, sự sống phải giống như một cái cây, với một gốc chung, sau đó tách ra thành nhiều nhánh khác nhau. Và giả thuyết này liên tục bị nhấn mạnh trong các nguồn tài liệu của những người theo phái tiến hóa, nơi mà khái niệm “cây sự sống” thường xuyên được sử dụng. Theo khái niệm “cây tiến hóa” này, các ngành sinh vật – đơn vị cơ bản của hệ thống phân loại giữa các sinh vật – xảy ra theo nhiều giai đoạn, như trong sơ đồ bên trên. Theo thuyết Darwin, một ngành xuất hiện trước tiên, và sau đó các ngành khác phải từ từ xuất hiện từ đó, cùng với những thay đổi nhỏ liên tục trong thời gian rất lâu dài. Giả thuyết này dẫn tới việc: số lượng các ngành động vật phải tăng dần theo thời gian. Sơ đồ bên trên cho thấy sự gia tăng dần về số lượng các ngành động vật theo quan điểm của những người theo phái tiến hóa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo thuyết Darwin, cuộc sống phải phát triển theo con đường này. Nhưng trong thực tế có xảy ra như vậy hay không?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hoàn toàn không. Và hoàn toàn ngược lại: các chủng loài động vật đã rất khác nhau và rất phức tạp, ngay từ thời điểm chúng lần đầu tiên xuất hiện. Hầu như tất cả các ngành động vật đã biết ngày nay xuất hiện trong cùng một khoảng thời gian, trong thời kỳ địa chất gọi là “kỷ Cambri”. Kỷ Cambri là một thời kỳ địa chất ước tính đã kéo dài khoảng 65 triệu năm, bắt đầu từ 570 triệu kéo dài cho tới 505 triệu năm trước đây. Nhưng thời kỳ mà các họ động vật lớn xuất hiện đột ngột thậm chí nằm lọt trong một khoảng thời gian còn ngắn hơn thuộc kỷ Cambri, thường được gọi là “sự bùng nổ kỷ Cambri”. Stephen C. Meyer, PA Nelson, và Paul Chien, trong một bài viết năm 2001 dựa trên một cuộc khảo sát tài liệu chi tiết năm 2001, lưu ý rằng “Sự bùng nổ kỷ Cambri xảy ra trong vòng một khung thời gian địa chất cực hẹp, kéo dài không quá 5 triệu năm.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Stephen C. Meyer, P. A. Nelson, và Paul Chien, tác phẩm “Sự bùng nổ kỷ Cambri: vụ nổ lớn của sinh học”, năm 2001, trang 2)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Su-that-ve-thuyet-tien-hoa-Cay-su-song-da-sai_Tin180.com_002.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 412px; height: 272px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Su-that-ve-thuyet-tien-hoa-Cay-su-song-da-sai_Tin180.com_002.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Thuyết tiến hóa cho rằng các nhóm sinh vật khác nhau (ngành) phát triển từ một tổ tiên chung và dần dần tách ra trở nên đa dạng dần qua thời gian, thông qua các chuỗi biến đổi liên tục lâu dài. Sơ đồ trên cho thấy: Theo giả thuyết của Darwin, sinh vật phát triển tách dần nhau ra như các nhánh cây.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Su-that-ve-thuyet-tien-hoa-Cay-su-song-da-sai_Tin180.com_003.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 412px; height: 246px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Su-that-ve-thuyet-tien-hoa-Cay-su-song-da-sai_Tin180.com_003.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên trong thực tế, các mẫu hóa thạch cho thấy điều ngược lại. Như có thể nhìn thấy từ biểu đồ trên, các nhóm sinh vật khác nhau xuất hiện bất ngờ với các cấu trúc khác biệt nhau ngay từ đầu. Khoảng 100 ngành đột nhiên xuất hiện trong kỷ Cambri. Sau đó, số lượng các ngành giảm nhiều hơn là tăng (bởi vì một số ngành đã bị tuyệt chủng).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước đó, không có dấu vết nào trong các mẫu hóa thạch của bất cứ thứ gì ngoài những sinh vật đơn bào và một số rất ít những sinh vật đa bào sơ khai. Tất cả các ngành động vật xuất hiện trong trạng thái đã định hình hoàn chỉnh và tất cả cùng một lúc, trong khoảng thời gian rất ngắn gọi là “sự bùng nổ kỷ Cambri”.(5 triệu năm là một thời gian địa chất rất ngắn!)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các hóa thạch được tìm thấy trong các khối đá thuộc kỷ Cambri gồm rất nhiều sinh vật rất khác nhau, như ốc sên, bọ ba thùy, bọt biển, con sứa, sao biển, sò ốc, vv… Hầu hết các sinh vật trong lớp địa chất này có các hệ thống phức tạp và cấu trúc cao cấp, như mắt, mang, và hệ tuần hoàn, hoàn toàn giống như trong các mẫu vật hiện đại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Richard Monastersky, một cây bút của tạp chí ScienceNews đã phát biểu như sau về “sự bùng nổ kỷ Cambri” – một trong những mối đe dọa to lớn đối với thuyết tiến hóa:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Nửa tỉ năm trước đây, … các chủng loài động vật phức tạp mà chúng ta thấy ngày hôm nay đột nhiên xuất hiện. Thời điểm đó, ngay khi bắt đầu kỷ Cambri của Trái Đất, khoảng 550 triệu năm trước đây, đánh dấu sự bùng nổ tiến hóa, lấp đầy các đại dương bởi các loài động vật phức tạp đầu tiên của thế giới”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Richard Monastersky, “Những bí ẩn của phương Đông,” Discover, tháng 4 năm 1993, trang 40)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bài báo trên còn trích dẫn lời của Jan Bergström, một nhà cố sinh vật học đã nghiên cứu các lớp trầm tích thuộc đầu kỷ Cambri tại Trừng Giang tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, rằng, “Hệ động vật Chengyiang chứng tỏ rằng các ngành động vật lớn ngày nay đã xuất hiện từ đầu kỷ Cambri và rằng chúng cũng khác biệt nhau rõ ràng giống như ngày nay vậy”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Richard Monastersky, “Những bí ẩn của phương Đông,” Discover, tháng 4 năm 1993, trang 40)&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Su-that-ve-thuyet-tien-hoa-Cay-su-song-da-sai_Tin180.com_004.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 400px; height: 105px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Su-that-ve-thuyet-tien-hoa-Cay-su-song-da-sai_Tin180.com_004.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Minh hoạ này miêu tả các sinh vật với cấu trúc phức tạp ngay từ kỷ Cambri. Sự xuất hiện của những sinh vật khác nhau như vậy mà không có các loài “tổ tiên” nào của chúng trước đó, hoàn toàn trái với thuyết tiến hóa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Làm thế nào Trái Đất lại đột nhiên tràn ngập một số lượng lớn như vậy các loài động vật, và làm thế nào nhiều chủng loài động vật không có tổ tiên chung có thể xuất hiện cùng lúc và đột ngột như thế, là một câu hỏi mà những người theo phái tiến hóa vĩnh viễn không trả lời được. Nhà động vật học thuộc Đại học Oxford tên là Richard Dawkins, một trong những người ủng hộ tư tưởng tiến hóa hàng đầu thế giới, đã nhận xét về thực tế đó như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ví dụ các địa tầng đá thuộc kỷ Cambri… là những khối đá lâu đời nhất mà trong đó chúng ta tìm thấy hầu hết các nhóm động vật không xương sống lớn. Và chúng ta khám phá ra rằng nhiều chủng loài trong số chúng đã có trạng thái tiến hóa cao cấp, ngay từ khi chúng lần đầu tiên xuất hiện. Dường như chúng đã mọc lên ở ngay đó, mà không có bất kỳ lịch sử tiến hóa nào cả.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Richard Dawkins, trong sách “The Blind Watchmaker”, nhà xuất bản W. W. Norton, London, năm 1986, trang 229)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phillip Johnson, một giáo sư tại Đại học California tại Berkeley cũng là một trong những nhà phê bình hàng đầu thế giới đi theo thuyết Darwin, đã mô tả sự mâu thuẫn giữa sự thật này với học thuyết Darwin, như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thuyết Darwin dự đoán một “hình nón ngày càng đa dạng,” trong đó các sinh vật sống đầu tiên, hoặc các loài động vật đầu tiên, từng bước và liên tục đa dạng hóa để tạo ra các cấp phân loại cao hơn. Nhưng trong thực tế các mẫu hóa thạch động vật giống như một hình nón bị đảo ngược, với các ngành hiện diện ngay từ đầu và sau đó giảm dần.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Phillip E. Johnson, “Darwinism’s Rules of Reasoning,” in Darwinism: Science or Philosophy by Buell Hearn, Foundation for Thought and Ethics, năm 1994, trang 12)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Su-that-ve-thuyet-tien-hoa-Cay-su-song-da-sai_Tin180.com_005.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 196px; height: 136px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Su-that-ve-thuyet-tien-hoa-Cay-su-song-da-sai_Tin180.com_005.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Như Phillip Johnson đã tiết lộ, hoàn toàn ngược lại với việc các ngành xuất hiện từng bước một, trong thực tế tất cả các chủng loài đã ra đời cùng một lúc trong giai đoạn “sự bùng nổ kỷ Cambri”.Và thậm chí nhờ bộ hồ sơ hóa thạch mà chúng ta đang có hiện nay, chúng ta còn biết rằng một số ngành động vật đã bị tuyệt chủng trong các thời kỳ sau đó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Như chúng ta có thể thấy, trong thời kỳ trước kỷ Cambri có 3 ngành sinh vật đơn bào khác nhau. Nhưng trong kỷ Cambri, khoảng chừng 60 tới 100 ngành động vật khác nhau đã xuất hiện một cách đột ngột. Trong các thời kỳ sau, một số ngành đã bị tuyệt chủng, và chỉ một số ít đã tồn tại cho đến thời đại của chúng ta.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhà khảo cổ học nổi tiếng Roger Lewin đã thảo luận về thực tế bất thường này:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Được mô tả gần đây là “sự kiện tiến hóa quan trọng nhất trong toàn bộ lịch sử của các động vật đa bào”, “sự bùng nổ Cambri” đã tạo ra hầu như tất cả các ngành động vật lớn mà có thể tồn tại sau đó, bao gồm cả nhiều ngành bị “xóa sổ” và trở thành tuyệt chủng. So sánh với khoảng 30 ngành còn tồn tại ngày nay, một số người ước tính rằng “sự bùng nổ kỷ Cambri” có thể đã tạo ra tới 100 ngành khác nhau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(R. Lewin, Science, tập 241, 15/7/1988, trang 291)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Su-that-ve-thuyet-tien-hoa-Cay-su-song-da-sai_Tin180.com_006.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 402px; height: 162px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Su-that-ve-thuyet-tien-hoa-Cay-su-song-da-sai_Tin180.com_006.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những cái gai thú vị: Một trong những sinh vật đột nhiên xuất hiện trong kỷ Cambri là Hallucigenia. Cũng như rất nhiều các hóa thạch kỷ Cambri khác, giống như ở hình bên phải, nó có gai hoặc vỏ cứng để bảo vệ nó khỏi bị tấn công bởi kẻ thù. Một câu hỏi mà những người theo phái tiến hóa không thể trả lời là, “Làm thế nào chúng có thể hình thành một hệ thống phòng thủ hiệu quả đến thế ở cái thời mà chúng không hề có kẻ thù nào xung quanh cả?“. Việc thiếu các động vật ăn thịt vào thời kỳ đó làm cho điều này không thể giải thích bằng các quan niệm của chọn lọc tự nhiên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có lẽ sự tồn tại của “thuyết tiến hóa” sắp đến hồi kết thúc …&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Minh Trí&lt;br /&gt;(tổng hợp)http://tin180.com/khoahoc/bi-an-the-gioi/20100816/su-that-ve-thuyet-tien-hoa-cay-su-song-da-sai.html &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/1383639910623827964-1148070120379494605?l=trungfq.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel="replies" type="application/atom+xml" href="http://trungfq.blogspot.com/feeds/1148070120379494605/comments/default" title="Đăng Nhận xét" /><link rel="replies" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/02/su-that-ve-thuyet-tien-hoa-cay-su-song.html#comment-form" title="0 Nhận xét" /><link rel="edit" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/1148070120379494605?v=2" /><link rel="self" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/1148070120379494605?v=2" /><link rel="alternate" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/02/su-that-ve-thuyet-tien-hoa-cay-su-song.html" title="Sự thật về thuyết tiến hóa: “Cây sự sống” đã sai" /><author><name>Phạm Quang Trung</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14901332933612324160</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel="http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail" width="32" height="24" src="http://3.bp.blogspot.com/---EG_fDe9VI/TvB1ij_Gm0I/AAAAAAAAALg/BW3RCHyMMrg/s220/TRUNG.jpg" /></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry gd:etag="W/&quot;C0cMQXs4cCp7ImA9WhRbFEs.&quot;"><id>tag:blogger.com,1999:blog-1383639910623827964.post-6010933845895832416</id><published>2012-02-05T23:54:00.002+07:00</published><updated>2012-02-05T23:58:00.538+07:00</updated><app:edited xmlns:app="http://www.w3.org/2007/app">2012-02-05T23:58:00.538+07:00</app:edited><category scheme="http://www.blogger.com/atom/ns#" term="Thuyết tiến hóa" /><title>Thuyết tiến hóa: Vụ lừa đảo “Piltdown Man” chấn động thế giới (Phần 2)</title><content type="html">Sau các cuộc kiểm nghiệm này, họ đã đưa ra kết luận gây chấn động toàn thể giới khoa học. Đó là các hiện vật kia không phải là 500.000 tuổi như lời tuyên bố gần 40 năm trước, và thậm chí chưa tới 50.000 tuổi. Vụ việc giả mạo vỡ lở ra đã làm toàn thể cộng đồng khoa học bị sốc nặng và vô cùng hổ thẹn. &lt;span class="fullpost"&gt;“Piltdown Man” bại lộ&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Thuyet-tien-hoa-Vu-lua-dao-Piltdown-Man-chan-do_Tin180.com_001.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 200px; height: 161px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Thuyet-tien-hoa-Vu-lua-dao-Piltdown-Man-chan-do_Tin180.com_001.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;“Piltdown Man”&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Thuyet-tien-hoa-Vu-lua-dao-Piltdown-Man-chan-do_Tin180.com_002.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 200px; height: 181px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Thuyet-tien-hoa-Vu-lua-dao-Piltdown-Man-chan-do_Tin180.com_002.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Giáo sư Kenneth Oakley&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Thuyet-tien-hoa-Vu-lua-dao-Piltdown-Man-chan-do_Tin180.com_003.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 150px; height: 170px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Thuyet-tien-hoa-Vu-lua-dao-Piltdown-Man-chan-do_Tin180.com_003.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Phần hàm dưới của hộp sọ là của một con đười ươi&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Thuyet-tien-hoa-Vu-lua-dao-Piltdown-Man-chan-do_Tin180.com_004.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 188px; height: 300px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Thuyet-tien-hoa-Vu-lua-dao-Piltdown-Man-chan-do_Tin180.com_004.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Bài báo phanh phui vụ lừa đảo làm chấn động giới khoa học thời bấy giờ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đa số các nhà khảo cổ học đều rất háo hức với những khám phá về “người Piltdown”, song bên cạnh đó vẫn có những người nghi ngờ những điều Dawson và Woodward công bố. Một số nhà khảo cổ dày dạn kinh nghiệm cho rằng chiếc hàm và hộp sọ được ghép từ 2 loài khác nhau, rằng phần hàm thực chất thuộc về một con tinh tinh cổ, còn phần sọ đúng là của người nhưng chỉ cách thời điểm bấy giờ vài trăm năm là cùng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sự việc vẫn luôn bị nghi ngờ trong suốt năm 1913 và 1914. Tuy nhiên, mọi chuyện lắng xuống khi một vài hiện vật khác được tìm thấy ở xung quanh khu vực khai quật đã góp phần củng cố giả thuyết về người “Piltdown Man”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1915, Dawson tiếp tục tìm thấy thêm nhiều cổ vật có giá trị lịch sử ở địa điểm khai quật khác gọi là Piltdown II. Những mảnh sọ khác cùng với một chiếc răng hàm được tuyên bố là được tìm thấy ở đây. Họ tin rằng những thứ này cùng thời với những hiện vật đã khai quật được ở Piltdown I. Những mảnh sọ và chiếc răng là những thứ duy nhất “được tìm thấy” tại đó bởi sau khi Dawson chết vào tháng 08/1916, chẳng ai biết chính xác Piltdown II nằm ở đâu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Khám phá” tại Piltdown II là rất quan trọng bởi lẽ nó đã góp phần thuyết phục những ai còn hoài nghi về câu chuyện của Dawson. Sau đó, mọi người đều công nhận giả thuyết của Dawson và Woodward. Nhưng đến năm 1950, vụ việc một lần nữa đã được đem ra xem xét với nhiều câu hỏi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1953, nhà địa chất học thuộc viện bảo tàng quốc gia Anh, Kenneth Oakley đã tham dự một hội nghị nói về nguồn gốc của loài người. Ở đó, ông đã gặp một nhà nhân chủng học người Nam Phi lúc ấy đang làm việc tại trường Đại học Oxford, tên là Joseph Weiner. Theo bài luận có tựa đề “Người Piltdown: Câu chuyện bí ẩn của nước Anh”, 2 người này đều nghi ngờ độ tuổi của “người Piltdown”, mối nối của chiếc hàm và hộp sọ, và tình trạng lộn xộn của những hóa thạch thu thập được.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng chung suy nghĩ như vậy, Oakley và Weiner quyết định làm một loạt kiểm nghiệm để xác định chính xác niên đại của hộp sọ, răng và những mảnh xương hàm. Họ đã áp dụng phương pháp kỹ thuật đo lượng flo có trong xương để biết chính xác tuổi của chúng. Nhiều phương pháp đo tuổi của bộ xương đã được tiến hành, thậm chí cả phương pháp đo lường bằng nitơ cũng được sử dụng để cho ra kết quả chính xác nhất.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau các cuộc kiểm nghiệm này, họ đã đưa ra kết luận gây chấn động toàn thể giới khoa học. Đó là các hiện vật kia không phải là 500.000 tuổi như lời tuyên bố gần 40 năm trước, và thậm chí chưa tới 50.000 tuổi. Vụ việc giả mạo vỡ lở ra đã làm toàn thể cộng đồng khoa học bị sốc nặng và vô cùng hổ thẹn. Chưa dừng lại ở đó, người ta còn phát hiện ra rằng phần nhiều các hiện vật đó đều đã bị “hóa trang” lại để đánh lừa các nhà khoa học hàng đầu thế giới. Những chiếc răng bị mài giũa và trồng vào để trông có vẻ mòn hơn, cũ kĩ hơn. Những mảnh xương thì được quét một lớp sơn đặc biệt để có vẻ cổ đại. Năm 1959, các nhà khoa học đã đưa ra kết luận chiếc hộp sọ người chỉ khoảng 600 tuổi, còn phần hàm thực chất là của một con đười ươi sống cách đây có 500 năm. Các hiện vật khác cũng đều bị phát hiện là giả mạo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Không chỉ là những mẫu vật bị “hóa trang” để làm cho chúng có vẻ cổ xưa, mà còn có bằng chứng rằng nhiều hiện vật tìm thấy ở Piltdown đã được họ chôn xuống địa điểm khai quật từ trước. Tin này đã làm cộng đồng khoa học chấn động và xấu hổ thêm một lần nữa. Việc kiểm định các hiện vật “Piltdown Man” đã làm người ta hoàn toàn sáng tỏ ra rằng: “Khám phá khoa học tầm cỡ thế kỷ” hóa ra lại là một trong những vụ lừa đảo tinh vi nhất trong lịch sử khoa học.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vụ lừa đảo này không chỉ làm đảo lộn cộng đồng khoa học, mà còn làm dấy lên nghi ngờ rằng nhiều nhà khoa học danh tiếng đã tiếp tay trong vụ lừa đảo “Piltdown Man”. Trong khoảng thời gian từ năm 1955 tới năm 1992 người ta đã điều tra ra 15 người có dính líu trong vụ việc này. Mặc dù một số người đã được minh oan, nhưng vẫn có ít nhất 7 người bị xác định là đồng thủ phạm. Họ bao gồm: Charles Dawson, Arthur Smith Woodward, W.J. Lewis Abbott, Sir Arthur Keith, Martin AC Hinton, Teilhard de Chardin, và cả Sir Arthur Conan Doyle – nhà văn nổi tiếng với bộ truyện trinh thám lừng danh thế giới “Sherlock Holmes”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(còn tiếp)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Minh Trí (tổng hợp)http://tin180.com/khoahoc/bi-an-the-gioi/20100823/thuyet-tien-hoa-vu-lua-dao-piltdown-man-chan-dong-the-gioi-phan-2.html&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/1383639910623827964-6010933845895832416?l=trungfq.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel="replies" type="application/atom+xml" href="http://trungfq.blogspot.com/feeds/6010933845895832416/comments/default" title="Đăng Nhận xét" /><link rel="replies" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/02/thuyet-tien-hoa-vu-lua-ao-piltdown-man_05.html#comment-form" title="0 Nhận xét" /><link rel="edit" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/6010933845895832416?v=2" /><link rel="self" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/6010933845895832416?v=2" /><link rel="alternate" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/02/thuyet-tien-hoa-vu-lua-ao-piltdown-man_05.html" title="Thuyết tiến hóa: Vụ lừa đảo “Piltdown Man” chấn động thế giới (Phần 2)" /><author><name>Phạm Quang Trung</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14901332933612324160</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel="http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail" width="32" height="24" src="http://3.bp.blogspot.com/---EG_fDe9VI/TvB1ij_Gm0I/AAAAAAAAALg/BW3RCHyMMrg/s220/TRUNG.jpg" /></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry gd:etag="W/&quot;Ck8HRX0yfip7ImA9WhRbFEs.&quot;"><id>tag:blogger.com,1999:blog-1383639910623827964.post-5219552856572982968</id><published>2012-02-05T23:49:00.002+07:00</published><updated>2012-02-05T23:53:54.396+07:00</updated><app:edited xmlns:app="http://www.w3.org/2007/app">2012-02-05T23:53:54.396+07:00</app:edited><category scheme="http://www.blogger.com/atom/ns#" term="Thuyết tiến hóa" /><title>Thuyết tiến hóa: Vụ lừa đảo “Piltdown Man” chấn động thế giới (Phần 1)</title><content type="html">“Người đàn ông Piltdown” có lẽ là một trong những trò lừa đảo nổi tiếng nhất trong lịch sử liên quan tới thuyết tiến hóa, và phải mất 40 năm các nhà khoa học mới phát hiện ra nó chỉ là một vụ lừa đảo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1908, 2 công nhân làm đường đang đào bới trên một con mương phủ đầy cát sỏi dọc theo một con đường gần làng Piltdown ở Sussex, nước Anh. Họ đã được nhà khảo cổ học nghiệp dư kiêm luật sư Charles Dawson thuê tìm kiếm những cổ vật, xương và cả hóa thạch vốn được cho là có khá nhiều ở khu vực này. Sau vài ngày, các công nhân đã phát hiện ra vài mảnh vỡ giống như sọ dừa trong bãi cát và đưa những thứ đó cho Dawson. Sau khi kiểm tra kỹ càng, Dawson xác định rằng những mảnh vụn được tìm thấy là sọ người. &lt;span class="fullpost"&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Thuyet-tien-hoa-Vu-lua-dao-Piltdown-Man_Tin180.com_001.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 150px; height: 199px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Thuyet-tien-hoa-Vu-lua-dao-Piltdown-Man_Tin180.com_001.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Charles Dawson&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mùa thu năm 1911, Dawson tìm thêm được một mảnh xương sọ lớn hơn và tin rằng nó thuộc cùng một hộp sọ với mấy mảnh sọ tìm được trước đó. Hơn nữa, ông còn tìm được một mảnh răng hà mã. Tất cả chúng đều được tìm thấy ở vị trí khai quật ban đầu ở Piltdown. Từ giữa năm 1908 tới năm 1911, Dawson đưa những phát hiện của mình tới một người quen cũ, là một thợ kim hoàn tên là W.J. Lewis Abbott. Abbott có chút hiểu biết về ngành khảo cổ học và cũng là một nhà sưu tầm hóa thạch. Abbott cho rằng những thứ Dawson tìm được là những hiện vật quan trọng và khuyên Dawson nên hỏi ý kiến của các chuyên gia.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Thuyet-tien-hoa-Vu-lua-dao-Piltdown-Man_Tin180.com_002.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 200px; height: 155px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Thuyet-tien-hoa-Vu-lua-dao-Piltdown-Man_Tin180.com_002.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Những mảnh sọ được tìm thấy&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghe theo lời khuyên của Abbott, tháng 02/1912, Dawson liên hệ với Arthur Smith Woodward, một người bạn làm ở Viện bảo tàng Lịch sử tự nhiên của Anh để nói về những mảnh sọ này. Woodward đã rất ấn tượng về những phát hiện của Dawson và quyết định kiểm tra kỹ lưỡng hơn xem ở con hào phủ đầy cát sỏi kia còn thứ gì tương tự như vậy không.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dawson và Woodward đã nhờ sự trợ giúp của Cha xứ Pierre Teilhard de Chardin giúp họ khai quật lần nữa tại địa điểm khai quật cũ ở Piltdown. Teilhard là một linh mục, đồng thời là một nhà thần học và một nhà cổ sinh vật học rất được kính trọng. Theo Richard Harters, tác giả của cuốn sách “Piltdown Man: Những mảnh xương bịp bợm” (Piltdown Man: The Bogus Bones Caper) sau này nói rằng, Dawson và Woodward đã chọn cha Teilhard làm người giúp đỡ khai quật vì họ tin tưởng ông sẽ không tiết lộ phát hiện này với người khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Thuyet-tien-hoa-Vu-lua-dao-Piltdown-Man_Tin180.com_003.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 200px; height: 174px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Thuyet-tien-hoa-Vu-lua-dao-Piltdown-Man_Tin180.com_003.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Dawson và Woodward với những mảnh sọ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm đó, ba người đàn ông và một người làm thuê đã khai quật được một số hiện vật độc đáo ở Piltdown. Trong số đó có nửa hàm dưới bên phải của một con vật giống như khỉ, một vài mẩu xương hàm của voi, răng voi, hóa thạch hải ly và thêm vài mảnh xương sọ nữa. Cả ba đều cho rằng nửa hàm dưới kia thuộc về một động vật giống người chứ không phải của khỉ. Hơn nữa, do các mảnh xương được tìm thấy rất gần nhau nên họ càng tin tưởng ở kết luận của mình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau khi phân tích các mẫu vật, họ đã cùng nhau đưa ra một kết luận có tính chất lịch sử. Họ khẳng định những mảnh hộp sọ và hàm dưới thuộc về một tổ tiên của loài người, là một “mắt xích còn thiếu” của thuyết tiến hóa, là một loài chuyển tiếp giữa người và khỉ. Họ tin rằng “Piltdown Man” là bằng chứng của việc con người đã tiến hóa từ “vượn người”. Ngoài ra, “phát hiện” này còn xác nhận giả thuyết rằng não bộ là bộ phận đầu tiên của cơ thể người “tiến hóa”. Điều này mâu thuẫn với tất cả các bằng chứng khảo cổ tính đến thời điểm lúc bấy giờ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Thuyet-tien-hoa-Vu-lua-dao-Piltdown-Man_Tin180.com_004.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 150px; height: 146px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Thuyet-tien-hoa-Vu-lua-dao-Piltdown-Man_Tin180.com_004.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Chân dung” người Piltdown được dựng lên từ các mảnh xương&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 11 năm 1912, những phát hiện này chính thức được công bố rộng rãi trên báo chí. Sau đó, “Piltdown Man” được coi là bộ xương người cổ xưa nhất mà thế giới từng biết đến.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vài tuần sau, Woodward và Dawson chính thức diễn thuyết về “Piltdown Man” trước rất nhiều khán giả tại Hội địa chất London. Họ kể lại chuyện đã khai quật được “Người Piltdown” như thế nào, và rằng họ tin chiếc sọ này không dưới 500.000 năm tuổi. Tuy nhiên, dù nhiều chuyên gia ủng hộ kết luận trên, vẫn có những người không tin điều đó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(còn tiếp)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Minh Trí&lt;br /&gt;(theo trutv.com)&lt;br /&gt;http://tin180.com/khoahoc/bi-an-the-gioi/20100820/thuyet-tien-hoa-vu-lua-dao-piltdown-man-chan-dong-the-gioi-phan-1.html &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/1383639910623827964-5219552856572982968?l=trungfq.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel="replies" type="application/atom+xml" href="http://trungfq.blogspot.com/feeds/5219552856572982968/comments/default" title="Đăng Nhận xét" /><link rel="replies" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/02/thuyet-tien-hoa-vu-lua-ao-piltdown-man.html#comment-form" title="0 Nhận xét" /><link rel="edit" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/5219552856572982968?v=2" /><link rel="self" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/5219552856572982968?v=2" /><link rel="alternate" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/02/thuyet-tien-hoa-vu-lua-ao-piltdown-man.html" title="Thuyết tiến hóa: Vụ lừa đảo “Piltdown Man” chấn động thế giới (Phần 1)" /><author><name>Phạm Quang Trung</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14901332933612324160</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel="http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail" width="32" height="24" src="http://3.bp.blogspot.com/---EG_fDe9VI/TvB1ij_Gm0I/AAAAAAAAALg/BW3RCHyMMrg/s220/TRUNG.jpg" /></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry gd:etag="W/&quot;CkQDSHY_eSp7ImA9WhRbFEs.&quot;"><id>tag:blogger.com,1999:blog-1383639910623827964.post-3676169222092571244</id><published>2012-02-05T23:32:00.003+07:00</published><updated>2012-02-05T23:46:19.841+07:00</updated><app:edited xmlns:app="http://www.w3.org/2007/app">2012-02-05T23:46:19.841+07:00</app:edited><category scheme="http://www.blogger.com/atom/ns#" term="Thuyết tiến hóa" /><title>Bí ẩn thế giới các hóa thạch sống (kỳ 4)</title><content type="html">Vô cùng kỳ lạ, thú mỏ vịt là loài động vật có vú nhưng lại có nọc độc. Nó là loài thú duy nhất có hệ thống tiêm nọc độc trong chân và móng vuốt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Loài cá kim&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuổi: 100 triệu năm&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời kỳ: Kỷ phấn trắng&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Địa điểm: Ramlia Taouz, Morocco &lt;span class="fullpost"&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/11/Bi-an-the-gioi-cac-hoa-thach-song-ky-4_Tin180.com_0013.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 500px; height: 316px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/11/Bi-an-the-gioi-cac-hoa-thach-song-ky-4_Tin180.com_0013.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Con cá này, dài 20,3 cm, là một con cá kim trưởng thành, với các chi tiết được bảo tồn rất tốt. Không có sự khác biệt giữa con cá kim sống hàng triệu năm trước và các bản sao của chúng ngày nay. Loài cá kim đã tồn tại hàng nhiều triệu năm mà không có sự thay đổi trong cấu trúc cơ thể của chúng, cho thấy không hề có sự tiến hóa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đây là một trong rất nhiều bằng chứng hóa thạch sống.&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/11/Bi-an-the-gioi-cac-hoa-thach-song-ky-4_Tin180.com_0023.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 500px; height: 262px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/11/Bi-an-the-gioi-cac-hoa-thach-song-ky-4_Tin180.com_0023.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cá kim là loài cá thường sống ở vùng nước nông hoặc gần mặt biển. Chúng được tìm thấy ở biển, môi trường nước lợ, nước ngọt trong khi một vài chi được giới hạn ở các sông, suối nước ngọt. Loài cá này có nhiều nét giống loài cá nhái Bắc Mỹ nước ngọt ở hình dáng thon dài, một hàm răng dài và hẹp đầy răng sắc nhọn.&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/11/Bi-an-the-gioi-cac-hoa-thach-song-ky-4_Tin180.com_0033.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 216px; height: 158px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/11/Bi-an-the-gioi-cac-hoa-thach-song-ky-4_Tin180.com_0033.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/11/Bi-an-the-gioi-cac-hoa-thach-song-ky-4_Tin180.com_0043.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 240px; height: 158px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/11/Bi-an-the-gioi-cac-hoa-thach-song-ky-4_Tin180.com_0043.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Loài phù du&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Yixian Formation, Chao Yang, Liaoning, Trung Quốc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://www.fossilmuseum.net/Fossil_Galleries/Insect_Galleries_by_Order/Ephemeroptera/mayfly-liaoning/BF028B.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 550px; height: 413px;" src="http://www.fossilmuseum.net/Fossil_Galleries/Insect_Galleries_by_Order/Ephemeroptera/mayfly-liaoning/BF028B.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Hóa thạch con phù du 125 triệu tuổi này hoàn toàn giống đồng loại của chúng hiện nay.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đây là một trong hàng triệu bằng chứng hóa thạch cho thấy không có sự tiến hóa nào cả.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Loài châu chấu&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Santana Formation, Ceara, Brazil&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/11/Bi-an-the-gioi-cac-hoa-thach-song-ky-4_Tin180.com_0053.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 500px; height: 289px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/11/Bi-an-the-gioi-cac-hoa-thach-song-ky-4_Tin180.com_0053.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/11/Bi-an-the-gioi-cac-hoa-thach-song-ky-4_Tin180.com_0063.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 440px; height: 320px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/11/Bi-an-the-gioi-cac-hoa-thach-song-ky-4_Tin180.com_0063.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hóa thạch con châu chấu trong hình trên được xác định là khoảng 108 tới 92 triệu năm tuổi. So sánh với con châu chấu ngày nay nó hoàn toàn giống, không có bất kỳ thay đổi nào sau hàng trăm triệu năm tồn tại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đây là một trong hàng triệu bằng chứng hóa thạch khai quật được, chưa kể một số lượng hóa thạch rất lớn đã bị một số thế lực phá hủy vì những lý do bí ẩn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thú mỏ vịt&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/11/Bi-an-the-gioi-cac-hoa-thach-song-ky-4_Tin180.com_0073.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 500px; height: 341px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/11/Bi-an-the-gioi-cac-hoa-thach-song-ky-4_Tin180.com_0073.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Thú mỏ vịt chỉ sống ở châu Úc, là loài thú có vú duy nhất đẻ trứng, nhưng vẫn nuôi con bằng sữa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/11/Bi-an-the-gioi-cac-hoa-thach-song-ky-4_Tin180.com_0083.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 468px; height: 523px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/11/Bi-an-the-gioi-cac-hoa-thach-song-ky-4_Tin180.com_0083.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/11/Bi-an-the-gioi-cac-hoa-thach-song-ky-4_Tin180.com_0093.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 468px; height: 318px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/11/Bi-an-the-gioi-cac-hoa-thach-song-ky-4_Tin180.com_0093.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Nó là một trong rất nhiều loài hóa thạch sống, cho thấy không hề có tiến hóa&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thú mỏ vịt đã tồn tại trên trái đất từ 167 triệu năm trước đây, và không khác gì đồng loại của chúng ngày nay.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chúng đẻ trứng nhưng thú mỏ vịt vẫn tiết ra sữa. Kỳ lạ hơn nữa, chúng không có núm vú, do đó, sữa tiết ra qua lỗ chân lông trên da và tập trung lại trong những rãnh trên bụng của con mẹ.&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/11/Bi-an-the-gioi-cac-hoa-thach-song-ky-4_Tin180.com_0103.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 492px; height: 307px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/11/Bi-an-the-gioi-cac-hoa-thach-song-ky-4_Tin180.com_0103.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Những đặc điểm vừa giống bò sát vừa giống chim vừa giống thú làm nhiều người muốn xếp nó là loài trung gian (mắt xích thiếu) của giả thuyết tiến hóa. Nhưng oái oăm thay, nếu là loài trung gian thì chỉ có thể là trung gian giữa bò sát với chim, hoặc giữa chim với thú chứ không thể đồng thời giống cả 3 thứ được. Rốt cuộc thì phải xếp loài này vào đâu trong cái “cây tiến hóa” của giả thuyết tiến hóa?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/11/Bi-an-the-gioi-cac-hoa-thach-song-ky-4_Tin180.com_011.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 468px; height: 478px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/11/Bi-an-the-gioi-cac-hoa-thach-song-ky-4_Tin180.com_011.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Hệ thống tiêm nọc độc trên chân và móng vuốt của chúng có thể gây đau đớn cho nạn nhân trong suốt nhiều ngày. Đây là đặc điểm độc nhất vô nhị của loài động vật này&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vô cùng kỳ lạ, thú mỏ vịt là loài động vật có vú nhưng lại có nọc độc. Nó là loài thú duy nhất có hệ thống tiêm nọc độc trong chân và móng vuốt. Cũng kỳ lạ không kém, là chỉ có thú mỏ vịt đực mới có tuyến nọc độc. Nó dùng những cái “cựa” sắc nhọn ở 2 chân sau có màng của nó để tiêm chất độc vào kẻ địch. Chất độc khiến nạn nhân đau dữ dội trong nhiều ngày, nhiều tuần và có khi là vài tháng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tóm lại loài vật này có nhiều điểm kỳ dị:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    1. Chúng có nọc độc như của loài bò sát, nhưng đẻ trứng và có mỏ giống như loài chim, nhưng lại có lông + nuôi con bằng sữa mẹ như loài thú.&lt;br /&gt;    2. Là loài duy nhất có tuyến nọc độc trong chân và móng vuốt.&lt;br /&gt;    3. Không hề trải qua sự biến đổi nào trong hàng trăm triệu năm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những đặc điểm vừa giống bò sát vừa giống chim vừa giống thú làm nhiều người muốn xếp nó là loài trung gian (mắt xích thiếu) của giả thuyết tiến hóa. Nhưng oái oăm thay, nếu là loài trung gian thì chỉ có thể là trung gian giữa bò sát với chim, hoặc giữa chim với thú chứ không thể đồng thời giống cả 3 thứ được.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nếu là dạng trung gian thì nghĩa là nó đã phải tuyệt chủng và hình thái của nó phải biến đổi từ từ trong các mẫu hóa thạch. Trong thực tế thì loài này không thay đổi sau 225 triệu năm, và vẫn tiếp tục tồn tại tới giờ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rốt cuộc thì phải xếp loài này vào đâu trong cái “cây tiến hóa” của giả thuyết tiến hóa?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngạc nhiên thay, loài vật này không phải là trường hợp trớ trêu duy nhất, khi mà gần như tất cả các ứng cử viên “loài trung gian” vẫn cứ có những đặc điểm không thay đổi trong suốt hàng trăm triệu năm tồn tại, và đến ngày nay vẫn chưa hề tuyệt chủng. Điển hình là Thú mỏ vịt, Chim Hoatzin, Cá vây tay, Bò sát Tuatara, vv… Điều đó làm rất nhiều nhà nghiên cứu cho rằng trong thực tế khái niệm “mắt xích thiếu” là không tồn tại, các giống loài từng nhiều lần xuất hiện đồng thời đột ngột và không biến đổi trong suốt chiều dài lịch sử của chúng. Hiện nay thuyết tiến hóa đang được thay thế bởi thuyết cân bằng ngắt quãng trong các trường trung học và đại học phương Tây.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(còn nữa)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Minh Trí&lt;br /&gt;(tổng hợp)&lt;br /&gt;http://tin180.com/khoahoc/bi-an-the-gioi/20101119/bi-an-the-gioi-cac-hoa-thach-song-ky-4.html &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/1383639910623827964-3676169222092571244?l=trungfq.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel="replies" type="application/atom+xml" href="http://trungfq.blogspot.com/feeds/3676169222092571244/comments/default" title="Đăng Nhận xét" /><link rel="replies" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/02/bi-the-gioi-cac-hoa-thach-song-ky-4.html#comment-form" title="0 Nhận xét" /><link rel="edit" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/3676169222092571244?v=2" /><link rel="self" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/3676169222092571244?v=2" /><link rel="alternate" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/02/bi-the-gioi-cac-hoa-thach-song-ky-4.html" title="Bí ẩn thế giới các hóa thạch sống (kỳ 4)" /><author><name>Phạm Quang Trung</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14901332933612324160</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel="http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail" width="32" height="24" src="http://3.bp.blogspot.com/---EG_fDe9VI/TvB1ij_Gm0I/AAAAAAAAALg/BW3RCHyMMrg/s220/TRUNG.jpg" /></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry gd:etag="W/&quot;A0MHRHo6cSp7ImA9WhRbFEg.&quot;"><id>tag:blogger.com,1999:blog-1383639910623827964.post-8284669782899719553</id><published>2012-02-05T23:24:00.002+07:00</published><updated>2012-02-05T23:30:35.419+07:00</updated><app:edited xmlns:app="http://www.w3.org/2007/app">2012-02-05T23:30:35.419+07:00</app:edited><category scheme="http://www.blogger.com/atom/ns#" term="Thuyết tiến hóa" /><title>Sự thật về Thuyết tiến hóa: Những hình vẽ phôi thai giả của Haeckel, lời nói dối xuyên thế kỷ (phần 1)</title><content type="html">Đó là “công trình khoa học” mà Darwin đã trích dẫn như là một tài liệu tham khảo trong cuốn sách “Sự tiến hóa của loài người”.Trong thực tế, một số người đã nhận ra rằng các tranh minh họa của Haeckel là một sự xuyên tạc ngay cả trước khi Darwin viết cuốn sách của mình. &lt;span class="fullpost"&gt;Những hình vẽ phôi giả mạo của Ernst Haeckel&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Thuyet-tien-hoa-phoi-bay-Nhung-hinh-ve-phoi-thai-_Tin180.com_001.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 250px; height: 211px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Thuyet-tien-hoa-phoi-bay-Nhung-hinh-ve-phoi-thai-_Tin180.com_001.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Với những hình vẽ phôi giả của mình, Ernst Haeckel đã đánh lừa được cả thế giới khoa học trong suốt hơn 1 thế kỷ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào năm 1868, Ernst Haeckel xuất bản cuốn sách Lịch sử của sự sáng tạo tự nhiên (Natürliche Schöpfungsgeschichte), trong đó Ernst Haeckel tuyên bố rằng ông đã thực hiện các so sánh bằng cách sử dụng phôi người, phôi khỉ và phôi chó. Trong các hình ông ta vẽ, các phôi gần như giống hệt nhau. Trên cơ sở các hình vẽ đó, Haeckel liền tuyên bố các giống loài có một nguồn gốc chung.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhưng sự thực thì hoàn toàn khác hẳn. Ernst Haeckel đã chỉ vẽ hình của một phôi thai duy nhất, rồi dựa vào đó chế ra hình phôi người, phôi khỉ, phôi chó và chỉ thêm vào mỗi hình đó rất ít thay đổi. Nói cách khác, đó là một trò lừa đảo.&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Thuyet-tien-hoa-phoi-bay-Nhung-hinh-ve-phoi-thai-_Tin180.com_002.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 450px; height: 356px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Thuyet-tien-hoa-phoi-bay-Nhung-hinh-ve-phoi-thai-_Tin180.com_002.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Loạt hình trên là loạt hình do Hackel vẽ giả, loạt hình dưới là hình chụp trong thực tế. Tuy vụ giả mạo kinh khủng này bị phát hiện từ cả trăm năm trước, nhưng hiện giờ nó vẫn nằm chường trong các sách giáo khoa của nhiều cấp học trên toàn thế giới. Tại sao lại như vậy?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đó là “công trình khoa học” mà Darwin đã trích dẫn như là một tài liệu tham khảo trong cuốn sách “Sự tiến hóa của loài người”. Trong thực tế, một số người đã nhận ra rằng các tranh minh họa của Haeckel là một sự xuyên tạc ngay cả trước khi Darwin viết cuốn sách của mình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    Trò lừa đảo của Haeckel đã quá rõ ràng và quá lớn đến độ ông ta đã bị cáo buộc bởi 5 vị giáo sư khác nhau và bị phán là có tội bởi tòa án trường Đại học Jena.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Hank Hanegraaff, Sai lầm chết người “Điều mà những người theo phái tiến hóa không muốn để bạn biết”, nhà xuất bản W Publishing Group, 2003, trang 70)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Haeckel đã làm giả những hình vẽ nhằm mục đích chống lưng cho cái học thuyết mà ông ta tôn sùng. Khi bị phát giác ra hành vi giả mạo, điều duy nhất ông ta muốn biện hộ là: những người theo phái tiến hóa khác cũng cần phải bị xử tội như ông ta:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    “Sau khi dứt khoát nhận tội ‘giả mạo’ này tôi phải có nghĩa vụ tự thấy bản thân mình đáng bị kết tội và tiêu diệt, nếu tôi không có được sự an ủi khi nhìn thấy hàng trăm người bạn đồng bị cáo cùng đứng trước vành móng ngựa với tôi, trong đó có nhiều nhà quan sát đáng tin cậy nhất và nhiều nhà sinh học được kính trọng nhất. Phần lớn các biểu đồ trong sách giáo khoa sinh học, luận án và tạp chí tốt nhất sẽ phải gánh chịu cùng một mức độ tội danh ‘giả mạo’, bởi tất cả chúng đều không chính xác, và bị làm giả, trình bày và dựng lên không nhiều thì ít”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Elizabeth Pennisi, bài báo “Những cái phôi của Haeckel: Trò gian lận đã bị phát hiện lần nữa,” đăng trên tờ báo Science, 5 tháng 9 năm 1997) và (Francis Hitching, cuốn sách “The Neck of the Giraffe: Where Darwin Went Wrong”, nhà xuất bản Ticknor and Fields, New York, năm 1982, trang 204)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhưng để giữ cho các giáo điều của Darwin đứng vững, có một sự cần thiết phải tuyên bố rằng bản vẽ của Haeckel thực sự là “bằng chứng của sự tiến hóa”. Trò gian lận ấy như thế nào, đối với những người theo phái tiến hóa Darwin cũng không quan trọng. Cái quan trọng trong mắt những người ủng hộ học thuyết Darwin là: làm sao để các hình vẽ của Haeckel được tuyên bố là bằng chứng cho thuyết tiến hóa, ngay cả nếu nó là giả.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    “Lời thú tội của Haeckel đã bị biến mất sau khi những hình vẽ của ông ta được sử dụng sau đó trong một quyển sách in năm 1901 có tựa đề: “Darwin và hậu Darwin”, và được sao chép rộng rãi trong các sách Sinh học viết bằng tiếng Anh”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Elizabeth Pennisi, bài báo “Những cái phôi của Haeckel: Trò gian lận đã bị phát hiện lần nữa,” đăng trên tờ báo Science, 5 tháng 9 năm 1997)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mặc cho việc trò giả mạo bị bại lộ, Darwin và những nhà sinh vật học ủng hộ ông ta tiếp tục coi các hình vẽ của Haeckel như là nguồn dẫn chứng tham khảo.Và điều đó đã khuyến khích Haeckel tiếp tục đi xa hơn. Trong những năm sau đó ông ta tiếp tục sản xuất ra hàng loạt các minh họa so sánh phôi. Ông ta vẽ các hình vẽ các phôi của cá, kỳ nhông, rùa, gà, thỏ và phôi người sát cạnh nhau. Các phôi của các giống loài khác nhau trong giai đoạn đầu, được ông ta vẽ hết sức giống nhau và chỉ khác nhau dần dần trong quá trình phát triển. Đặc biệt, sự giống nhau giữa phôi người và phôi cá thực sự là rất ấn tượng, đến mức cái “mang” có thể được nhìn thấy trong hình vẽ phôi người, giống như ở hình vẽ phôi cá. Dưới cái lốt khoa học mà ông ta đã khoác lên các hình minh họa ấy, Haeckel đã đưa ra “học thuyết về sự lặp lại hình thái” (Ontology Repeats Phylogeny). Ý nghĩa của “học thuyết” do Haeckel “sáng chế” ra, là như thế này: trong quá trình phát triển mà phôi trải qua trong trứng hay tử cung của mẹ, thì mọi giống loài đều lặp đi lặp lại lịch sử “tiến hóa” của nó, trong thời kỳ phôi thai. Ví dụ, ông ta nói phôi thai con người trong tử cung của người mẹ, đầu tiên trông giống như một con cá, và sau đó trong những tuần tiếp theo thì giống một con kỳ nhông, một loài bò sát rồi một động vật có vú, cuối cùng “tiến hóa” thành một con người.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bại lộ thêm lần nữa&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Thuyet-tien-hoa-phoi-bay-Nhung-hinh-ve-phoi-thai-_Tin180.com_003.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 250px; height: 358px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Thuyet-tien-hoa-phoi-bay-Nhung-hinh-ve-phoi-thai-_Tin180.com_003.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Haeckel bịa ra rằng các phôi sẽ trải nghiệm lại “quá trình tiến hóa” mà “tổ tiên” của chúng đã trải qua. Những hình vẽ giả mạo của Haeckel, nói rằng phôi người ban đầu có đặc điểm giống như một con cá và sau đó, trong những tuần tiếp theo, giống một con kỳ nhông, một loài bò sát rồi một động vật có vú, cuối cùng “tiến hóa” thành một con người.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bây giờ người ta đã biết rằng “những cái mang” xuất hiện trong giai đoạn đầu của phôi thai con người, trong thực tế là ống tai giữa, tuyến cận giáp, và tuyến ức đang hình thành. Cái phần của phôi thai mà trông giống như “túi lòng đỏ trứng” hóa ra là một cái túi mà sản xuất máu cho trẻ sơ sinh. Cái phần mà Haeckel nói là cái “đuôi” trong thực tế là xương sống, trông giống như một cái đuôi chỉ vì nó hình thành trước khi đôi chân xuất hiện.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong thập niên 1990, một nhà nghiên cứu phôi thai, người Anh, tên là Michael Richardson đã kiểm tra phôi của động vật có xương sống dưới kính hiển vi và xác định rõ ràng rằng, trong thực tế các phôi hoàn toàn không giống với những hình vẽ của Haeckel.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong ấn bản ngày 05 Tháng 9 năm 1997, của tạp chí khoa học Science nổi tiếng, một bài báo được xuất bản cho thấy bản vẽ phôi của Haeckel là lừa đảo. Bài báo này mang tựa đề: “Những cái phôi của Haeckel: Gian lận đã bị phát hiện lần nữa”, đã cho biết:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    “Michael Richardson, một nhà phôi thai học tại Trường y của bệnh viện St Geogre (St George’s Hospital Medical School) ở London nói: “Ấn tượng mà các bản vẽ của Haeckel mang lại, rằng các phôi hoàn toàn giống nhau, là sai”… Vì vậy, ông và các đồng nghiệp đã tự nghiên cứu so sánh, kiểm tra lại và chụp ảnh các phôi của các loài ở độ tuổi phù hợp tương đối với những hình mà Haeckel đã vẽ. Hãy nhìn mà xem, các phôi thai “luôn trông khác nhau một cách đáng kinh ngạc”, Richardson báo cáo trong số ra tháng 8 của tờ Giải phẫu và Phôi thai học”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Elizabeth Pennisi, bài báo “Những cái phôi của Haeckel: Trò gian lận đã bị phát hiện lần nữa,” đăng trên tờ báo Science, 5 tháng 9 năm 1997)&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Thuyet-tien-hoa-phoi-bay-Nhung-hinh-ve-phoi-thai-_Tin180.com_004.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 358px; height: 440px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Thuyet-tien-hoa-phoi-bay-Nhung-hinh-ve-phoi-thai-_Tin180.com_004.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong ấn bản ngày 05 Tháng 9 năm 1997, của tạp chí khoa học Science nổi tiếng, một bài báo được xuất bản cho thấy bản vẽ phôi của Haeckel là lừa đảo. Bài báo này mang tựa đề: “Những cái phôi của Haeckel: Trò gian lận đã bị phát hiện lần nữa”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bài báo đã mô tả các phôi, trong thực tế, trông khác nhau như thế nào&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Thuyet-tien-hoa-phoi-bay-Nhung-hinh-ve-phoi-thai-_Tin180.com_005.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 358px; height: 170px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2010/08/Thuyet-tien-hoa-phoi-bay-Nhung-hinh-ve-phoi-thai-_Tin180.com_005.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các quan sát trong những năm gần đây đã cho thấy các phôi của các loài khác nhau không giống nhau, như những gì mà Haeckel tuyên bố. Sự khác nhau hoàn toàn giữa phôi của động vật có vú, của loài bò sát và của loài dơi ở trên, là một minh chứng rõ ràng cho điều đó&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thực ra, đây là một sự thật đã được biết đến từ rất lâu trong giới khoa học, ngay cả những người theo phái tiến hóa cũng phải công nhận điều đó. Nhưng vì những lý do bí ẩn, họ vẫn cố tình phớt lờ vụ giả mạo này và khiến cho rất nhiều người tin rằng: những gì Haeckel nói mới là sự thật.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 16 Tháng 10 Năm 1999 tờ báo New Scientist đã viết:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    “Haeckel gọi đây là một quy luật sinh học, và ý tưởng đó đã trở thành phổ biến, được gọi là sự lặp lại hình thái (recapitulation). Trong thực tế, quy luật nghiêm ngặt của Haeckel đã sớm bị chứng minh là sai. Ví dụ, những năm đầu tiên của phôi thai người không bao giờ có mang có chức năng như một con cá, và không bao giờ trải qua các giai đoạn nào trông giống như một loài bò sát trưởng thành hoặc là một con khỉ”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Elizabeth Pennisi, bài báo “Những cái phôi của Haeckel: Trò gian lận đã bị phát hiện lần nữa”, đăng trên tờ báo Science, 5 tháng 9 năm 1997)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một bài báo trong tờ American Scientist, đã viết:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    “Chắc chắn quy luật sinh học này đã chết hoàn toàn. Cuối cùng nó đã bị loại trừ khỏi các sách giáo khoa sinh học trong thập niên 50. Là một chủ đề của cuộc điều tra lý thuyết nghiêm túc, nó đã bị tuyệt chủng trong thế kỷ 20… ”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Keith S. Thomson, “Vòng đời của cá thể sinh vật và sự phát sinh loài,” đăng trên báo American Scientist, tập 76, tháng 5 và tháng 6 năm 1988, trang 273)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên, có lẽ người ta đã quá lạc quan. Vì trên thực tế, nó vẫn được dạy trong các trường học, được phần lớn người ta xem là một “sự thật khoa học”…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(còn tiếp)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Minh Trí (tổng hợp)&lt;br /&gt;http://tin180.com/khoahoc/bi-an-the-gioi/20100811/su-that-ve-thuyet-tien-hoa-nhung-hinh-ve-phoi-thai-gia-cua-haeckel-loi-noi-doi-xuyen-the-ky-p.html &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/1383639910623827964-8284669782899719553?l=trungfq.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel="replies" type="application/atom+xml" href="http://trungfq.blogspot.com/feeds/8284669782899719553/comments/default" title="Đăng Nhận xét" /><link rel="replies" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/02/su-that-ve-thuyet-tien-hoa-nhung-hinh.html#comment-form" title="0 Nhận xét" /><link rel="edit" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/8284669782899719553?v=2" /><link rel="self" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/8284669782899719553?v=2" /><link rel="alternate" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/02/su-that-ve-thuyet-tien-hoa-nhung-hinh.html" title="Sự thật về Thuyết tiến hóa: Những hình vẽ phôi thai giả của Haeckel, lời nói dối xuyên thế kỷ (phần 1)" /><author><name>Phạm Quang Trung</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14901332933612324160</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel="http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail" width="32" height="24" src="http://3.bp.blogspot.com/---EG_fDe9VI/TvB1ij_Gm0I/AAAAAAAAALg/BW3RCHyMMrg/s220/TRUNG.jpg" /></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry gd:etag="W/&quot;A0cFSHs7fyp7ImA9WhRbFEg.&quot;"><id>tag:blogger.com,1999:blog-1383639910623827964.post-8986922031208831345</id><published>2012-02-05T22:34:00.006+07:00</published><updated>2012-02-05T23:23:39.507+07:00</updated><app:edited xmlns:app="http://www.w3.org/2007/app">2012-02-05T23:23:39.507+07:00</app:edited><category scheme="http://www.blogger.com/atom/ns#" term="Thuyết tiến hóa" /><title>Thuyết tiến hóa và những bí mật không ngờ (1)</title><content type="html">“Khoa địa chất học hoàn toàn không cho thấy bất kỳ chuỗi hữu cơ phát triển dần dần một cách tinh vi nào như vậy; và điều đó, có lẽ là lý do phản đối rõ ràng và đáng sợ nhất có thể bị đưa ra để chống lại lý thuyết này”.     “Số lượng dạng trung gian từng tồn tại trước đây thực sự phải rất lớn. Vậy tại sao không có bất kỳ cấu tạo địa chất nào và địa tầng nào tràn đầy các mắt xích trung gian như thế? Khoa địa chất học hoàn toàn không cho thấy bất kỳ chuỗi hữu cơ phát triển dần dần một cách tinh vi nào như vậy; và điều đó, có lẽ là lý do phản đối rõ ràng và đáng sợ nhất có thể bị đưa ra để chống lại lý thuyết này”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Charles Darwin, “Nguồn gốc các loài”, Ấn bản lần thứ 6, năm 1902, trang 341-342)&lt;br /&gt;    “Tôi thường rùng mình ớn lạnh, và tôi đã tự hỏi mình rằng liệu tôi có thể đã hiến dâng bản thân mình cho một ảo tưởng hay không”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Charles Darwin, “Cuộc đời và những bức thư của Charles Darwin”, năm 1887, tập 2, trang 229) &lt;span class="fullpost"&gt;Chính Darwin công nhận rằng, theo giả thuyết tiến hóa của ông thì số lượng hóa thạch các loài trung gian phải rất lớn, đến ngày nay trên tổng số khoảng 100 triệu hóa thạch sinh vật đã khai quật được ít ra phải có hàng triệu hóa thạch loài trung gian. Tuy nhiên con số hóa thạch “mắt xích thiếu” trong thực tế cực kỳ ít, chỉ có khoảng vài chục mà thôi. Kỳ dị thay, tất cả các hóa thạch loài trung gian ít ỏi ấy đều bị tranh cãi gay gắt, và một số đã bị chứng minh là đồ giả hoặc là sai lầm, sau nhiều năm nằm trong sách giáo khoa và các viện bảo tàng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Piltdown Man”: Một quai hàm đười ươi + một cái sọ người&lt;br /&gt;Thời gian tồn tại: 42 năm&lt;br /&gt;1) Các hóa thạch được khai quật bởi Charles Dawson và được trao cho Sir Arthur Smith Woodward.&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2011/01/Thuyet-tien-hoa-va-nhung-bi-mat-khong-ngo_Tin180.com_001.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 357px; height: 310px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2011/01/Thuyet-tien-hoa-va-nhung-bi-mat-khong-ngo_Tin180.com_001.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2011/01/Thuyet-tien-hoa-va-nhung-bi-mat-khong-ngo_Tin180.com_003.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 141px; height: 190px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2011/01/Thuyet-tien-hoa-va-nhung-bi-mat-khong-ngo_Tin180.com_003.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2011/01/Thuyet-tien-hoa-va-nhung-bi-mat-khong-ngo_Tin180.com_002.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 193px; height: 190px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2011/01/Thuyet-tien-hoa-va-nhung-bi-mat-khong-ngo_Tin180.com_002.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2) Các mảnh vụn bị dựng lại để tạo thành cái hộp sọ nổi tiếng này.&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2011/01/Thuyet-tien-hoa-va-nhung-bi-mat-khong-ngo_Tin180.com_004.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 184px; height: 206px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2011/01/Thuyet-tien-hoa-va-nhung-bi-mat-khong-ngo_Tin180.com_004.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3) Dựa trên hộp sọ được tái tạo đó, các bản vẽ và bức tượng khác nhau đã được dựng lên, nhiều bài viết và bình luận báo chí được phát hành. Hộp sọ ban đầu trưng bày ở Bảo tàng Anh.&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2011/01/Thuyet-tien-hoa-va-nhung-bi-mat-khong-ngo_Tin180.com_006.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 133px; height: 129px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2011/01/Thuyet-tien-hoa-va-nhung-bi-mat-khong-ngo_Tin180.com_006.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2011/01/Thuyet-tien-hoa-va-nhung-bi-mat-khong-ngo_Tin180.com_005.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 150px; height: 204px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2011/01/Thuyet-tien-hoa-va-nhung-bi-mat-khong-ngo_Tin180.com_005.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2011/01/Thuyet-tien-hoa-va-nhung-bi-mat-khong-ngo_Tin180.com_007.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 156px; height: 206px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2011/01/Thuyet-tien-hoa-va-nhung-bi-mat-khong-ngo_Tin180.com_007.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4) Sau 40 năm “phát hiện” ra nó, một nhóm các nhà nghiên cứu đã chứng minh hóa thạch Piltdown là một vụ lừa đảo tầm cỡ thế giới.&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2011/01/Thuyet-tien-hoa-va-nhung-bi-mat-khong-ngo_Tin180.com_008.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 402px; height: 321px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2011/01/Thuyet-tien-hoa-va-nhung-bi-mat-khong-ngo_Tin180.com_008.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1912, một nhà cổ nhân loại học nghiệp dư đồng thời là một bác sĩ nổi tiếng tên là Charles Dawson tuyên bố rằng ông ta đã tìm thấy một mảnh xương hàm và một mảnh sọ trong một cái hố ở Piltdown, Anh. Mặc dù chiếc xương hàm rất giống hàm vượn, nhưng răng và hộp sọ lại giống như của người. Những mẫu vật này được dán nhãn gọi là “Piltdown Man”. Được tuyên bố là 500.000 năm tuổi, chúng đã được trưng bày như thể là một bằng chứng tuyệt đối của sự tiến hóa của con người trong một số viện bảo tàng. Trong hơn 40 năm, nhiều bài viết khoa học đã viết về “Piltdown Man”, nhiều bài diễn giải, nhiều bản vẽ đã được dựng lên, và hóa thạch này đã được coi là bằng chứng quan trọng cho sự tiến hóa của con người. Có tới hơn 500 luận án tiến sĩ đã lấy đề tài này để bảo vệ (!) [1] Trong khi tham quan Bảo tàng Anh năm 1921, nhà cổ nhân loại học hàng đầu người Mỹ là Henry Fairfield Osborn đã tuyên bố “Piltdown Man” là “một khám phá có tầm quan trọng tối cao về thời tiền sử của loài người”.[2]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1949, Kenneth Oakley thuộc Cục cổ sinh vật học của Bảo tàng Anh, đã cố gắng sử dụng Phương pháp kiểm thử flo, một phương pháp mới – để xác định niên đại của các hóa thạch. Một thử nghiệm đã được thực hiện trên các hóa thạch của “Người Piltdown”. Kết quả đã làm người ta hết sức kinh ngạc. Trong khi kiểm thử, họ đã nhận ra rằng xương hàm của “Piltdown Man” đã không chứa chút flo nào cả. Điều này chỉ ra rằng nó mới chỉ được chôn dưới đất trong vòng một vài năm mà thôi. Chiếc hộp sọ chỉ chứa một lượng nhỏ flo, cho thấy nó không quá một ngàn năm tuổi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người ta đã xác định được rằng các răng trong xương hàm là của một con vượn, đã bị mài mòn một cách nhân tạo. Người ta cũng xác định rằng các công cụ “nguyên thủy” được phát hiện cùng với các hóa thạch đó là những món đồ giả, được mài sắc bằng các dụng cụ thép. [3] Trong tài liệu phân tích chi tiết của Joseph Weiner, vụ giả mạo này đã được phơi bày trước công chúng vào năm 1953. Hộp sọ “Piltdown Man” là của một người đàn ông sống vào 500 năm trước, và xương hàm là của một con khỉ vừa mới chết! Những chiếc răng đã được sắp xếp một cách đặc biệt rồi gắn vào quai hàm, và bề mặt các răng được mài giũa để trông giống như của một con người. Sau đó, tất cả các mảnh vụn này đã được nhuộm bằng hóa chất dicromat kali để cho nó trông thật là cổ xưa. Những vết nhuộm này dần dần biến mất khi người ta nhúng chúng vào acid. Sir Wilfred Le Gros Clark, người trong nhóm phát hiện ra vụ giả mạo này, đã không thể giấu nổi sự kinh ngạc và nói: “Các bằng chứng của việc mài mòn giả tạo ngay lập tức đập vào mắt. Thực tế quá rõ ràng như vậy mà tại sao – làm thế nào trước đây họ lại có thể dễ dàng qua mặt được công chúng?”. [4] Sau khi vỡ lở, “Người Piltdown” đã bị loại bỏ khỏi Bảo tàng Anh, nơi nó đã được trưng bày trong suốt hơn 40 năm trời.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lạ thay, vụ lừa đảo này không phải là biệt lệ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Nebraska Man”: Diễn cảnh tuyệt vời từ 1 chiếc răng lợn&lt;br /&gt;Thời gian tồn tại: 5 năm&lt;br /&gt;Năm 1922, Henry Fairfield Osborn, giám đốc Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Hoa Kỳ, tuyên bố rằng ông ta đã tìm thấy một chiếc răng hàm hóa thạch thuộc thời kỳ Pliocen ở phía tây Nebraska gần Snake Brook. Chiếc răng này có vẻ mang đặc điểm chung của cả con người và loài khỉ. Một tranh cãi khoa học lớn đã nổ ra xung quanh hoá thạch được gọi là “Người Nebraska” này. Một số người giải thích cái răng này là thuộc về người Pithecanthropus erectus, trong khi những người khác thì cho rằng nó gần với con người hơn. “Người Nebraska” cũng ngay lập tức được tặng cho một cái “tên khoa học”, gọi là Hesperopithecus haroldcooki.&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2011/01/Thuyet-tien-hoa-va-nhung-bi-mat-khong-ngo_Tin180.com_009.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 500px; height: 369px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2011/01/Thuyet-tien-hoa-va-nhung-bi-mat-khong-ngo_Tin180.com_009.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hình ảnh này đã được suy diễn ra dựa trên cơ sở của chỉ một chiếc răng duy nhất đó (!) và nó đã được xuất bản trong tạp chí Illustrated London News uy tín vào ngày 24 tháng 7 năm 1922. Tuy nhiên, 5 năm sau người ta phát hiện ra chiếc răng này không phải thuộc về một “người vượn” hay của một con người nào cả, mà là của một con lợn&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhiều chuyên gia có uy tín đã ủng hộ Osborn. Dựa trên cái răng duy nhất đó, họ đã “tái tạo” cả cái đầu của “Người Nebraska” và nguyên cả cơ thể của “anh ta”. Hơn nữa, “Người Nebraska” đã thậm chí còn được dựng lên cùng với vợ và con của “anh ta” thành một gia đình hoàn chỉnh trong khung cảnh thiên nhiên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tất cả các diễn cảnh này đều được dựng lên từ chỉ một cái răng (!). Các tín đồ tiến hóa đã đặt nhiều niềm tin vào “người Nebraska” tới mức, khi nhà nghiên cứu William Bryan phản đối việc họ tùy tiện đưa ra những kết luận này dựa vào một chiếc răng duy nhất thì ông đã bị chỉ trích gay gắt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1927, các phần khác của bộ xương này cũng được tìm thấy. Theo các mảnh vụn mới được phát hiện đó, cái răng không thuộc về một người đàn ông và cũng không thuộc về một con khỉ nào. Người ta nhận ra rằng nó thuộc về một loài lợn hoang dã đã tuyệt chủng ở châu Mỹ gọi là Prosthennops. William Gregory đã viết một bài báo trong tạp chí Science để công bố sự thật, có tựa đề “Hesperopithecus: Rõ ràng không phải vượn cũng không phải người” [5] Sau đó, tất cả các bản vẽ của “Hesperopithecus haroldcooki” và “gia đình của anh ta” đã nhanh chóng bị xóa khỏi các tài liệu tiến hóa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những cái phôi của Haeckel&lt;br /&gt;Thời gian tồn tại: 142 năm – Vô thời hạn&lt;br /&gt;Đó là “công trình khoa học” mà Darwin đã trích dẫn như là một tài liệu tham khảo trong cuốn sách nổi tiếng “Sự tiến hóa của loài người”. Thế nhưng đó chỉ là sự giả mạo của Ernst Haeckel.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào năm 1868, Haeckel xuất bản cuốn sách “Lịch sử của sự sáng tạo tự nhiên”, trong đó Ernst Haeckel tuyên bố rằng ông ta đã thực hiện các so sánh bằng cách sử dụng phôi người, phôi khỉ và phôi chó. Trong các hình ông ta vẽ, các phôi gần như giống hệt nhau. Trên cơ sở các hình vẽ đó, Haeckel liền tuyên bố các giống loài có một nguồn gốc chung.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhưng sự thực thì hoàn toàn khác hẳn. Ernst Haeckel đã chỉ vẽ hình của một phôi thai duy nhất, rồi dựa vào đó chế ra hình phôi người, phôi khỉ, phôi chó và chỉ thêm vào mỗi hình đó rất ít thay đổi. Nói cách khác, đó là một trò lừa đảo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trò lừa đảo của Haeckel đã quá rõ ràng và quá lớn đến độ ông ta đã bị cáo buộc bởi 5 vị giáo sư khác nhau và bị phán là có tội bởi tòa án trường Đại học Jena. Khi bị phát giác ra hành vi giả mạo, điều duy nhất ông ta muốn biện hộ khi thú tội là: những người theo phái tiến hóa khác cũng cần phải bị xử tội như ông ta.&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2011/01/Thuyet-tien-hoa-va-nhung-bi-mat-khong-ngo_Tin180.com_010.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 450px; height: 356px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2011/01/Thuyet-tien-hoa-va-nhung-bi-mat-khong-ngo_Tin180.com_010.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Loạt hình trên là loạt hình do Hackel vẽ giả, loạt hình dưới là hình chụp trong thực tế&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lời thú tội của Haeckel đã bị biến mất sau khi những hình vẽ của ông ta được sử dụng sau đó trong một quyển sách in năm 1901 có tựa đề: “Darwin và hậu Darwin”, rồi được sao chép rộng rãi trong các sách Sinh học viết bằng tiếng Anh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mặc cho việc trò giả mạo bị bại lộ, Darwin và những nhà sinh vật học ủng hộ ông ta tiếp tục coi các hình vẽ của Haeckel như là nguồn dẫn chứng tham khảo. Và điều đó đã khuyến khích Haeckel tiếp tục đi xa hơn. Ông ta vẽ các hình vẽ các phôi của cá, kỳ nhông, rùa, gà, thỏ và phôi người sát cạnh nhau. Đặc biệt, sự giống nhau giữa phôi người và phôi cá thực sự là rất ấn tượng, đến mức cái “mang” có thể được nhìn thấy trong hình vẽ phôi người, giống như ở hình vẽ phôi cá.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bây giờ người ta đã biết rằng “những cái mang” xuất hiện trong giai đoạn đầu của phôi thai con người, trong thực tế là ống tai giữa, tuyến cận giáp, và tuyến ức đang hình thành. Cái phần của phôi thai mà trông giống như “túi lòng đỏ trứng” hóa ra là một cái túi mà sản xuất máu cho trẻ sơ sinh. Cái phần mà Haeckel nói là cái “đuôi” trong thực tế là xương sống, trông giống như một cái đuôi chỉ vì nó hình thành trước khi đôi chân xuất hiện.&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2011/01/Thuyet-tien-hoa-va-nhung-bi-mat-khong-ngo_Tin180.com_011.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 358px; height: 440px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2011/01/Thuyet-tien-hoa-va-nhung-bi-mat-khong-ngo_Tin180.com_011.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong ấn bản ngày 05 Tháng 9 năm 1997, của tạp chí khoa học Science nổi tiếng, một bài báo được xuất bản cho thấy bản vẽ phôi của Haeckel là lừa đảo. Bài báo này mang tựa đề: “Những cái phôi của Haeckel: Gian lận đã bị phát hiện lần nữa”. Bài báo đã mô tả các phôi, trong thực tế, trông khác hẳn nhau như thế nào&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thực ra, đây là một sự thật đã được biết đến từ rất lâu trong giới khoa học. Nhưng vì những lý do bí ẩn, vụ giả mạo này đã bị phớt lờ vĩnh viễn. Cho đến ngày nay sau hàng trăm năm kể từ lần đầu tiên bị chứng minh là giả mạo, những hình ảnh giả dối ấy vẫn xuất hiện đều đều trong sách giáo khoa của nhiều cấp học trên toàn thế giới, khiến cho rất nhiều thế hệ học sinh sinh viên bị nhiễm độc ngay từ thơ ấu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ota Benga: Một người châu Phi bản địa bị nhốt vào chuồng&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2011/01/Thuyet-tien-hoa-va-nhung-bi-mat-khong-ngo_Tin180.com_012.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 401px; height: 602px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2011/01/Thuyet-tien-hoa-va-nhung-bi-mat-khong-ngo_Tin180.com_012.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bìa cuốn sách “OTA BENGA: Người Pygmy trong sở thú”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau khi Darwin xuất bản cuốn sách “Dòng dõi loài người”, nói rằng con người tiến hóa từ những sinh vật gọi là “người vượn”, ông bắt đầu tìm kiếm các hóa thạch để ủng hộ cho luận điểm này. Tuy nhiên, một số tín đồ của lý thuyết tiến hóa tin rằng những sinh vật “nửa người nửa vượn” đã được tìm thấy không chỉ trong các mẫu hóa thạch, mà còn tồn tại ở một số vùng đất khác nhau trên thế giới. Vào đầu thế kỷ 20, những cuộc tìm kiếm “những loài chuyển tiếp sống” đã dẫn đến nhiều sự việc đau lòng. Một trong những vụ việc tàn bạo nhất trong số đó là câu chuyện của một người lùn Pygmy có tên là Ota Benga.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ota Benga bị bắt vào năm 1904 bởi một tín đồ tiến hóa ở Congo. Trong ngôn ngữ của người Pygmy, tên của anh có nghĩa là “người bạn”. Anh đã có một vợ và hai con. Anh bị xiềng xích và nhốt vào chuồng như một con vật, rồi bị đưa đến Mỹ. Ở đó anh bị các tín đồ tiến hóa đưa ra trước công chúng tại Hội chợ Thế giới St Louis cùng với những con vượn, giới thiệu rằng anh là “loài chuyển tiếp gần với con người nhất”. Hai năm sau, họ đưa anh đến Sở thú Bronx ở New York và ở đó họ trưng bày anh như là “những tổ tiên cổ xưa của con người” cùng chuồng với một vài con tinh tinh, một con gorilla có tên là Dinah, và một con khỉ tên là Dohung. Tiến sĩ William T. Hornaday, giám đốc sở thú cũng là tín đồ tiến hóa, đã đọc nhiều bài phát biểu rất dài, về việc ông ta tự hào có “loài chuyển tiếp” đặc biệt này trong vườn thú của mình ra sao. Ông ta đối xử với Ota Benga – đang bị nhốt trong lồng – như thể anh là một con vật. Không thể chịu đựng nổi, Ota Benga cuối cùng đã tự sát. [6]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2011/01/Thuyet-tien-hoa-va-nhung-bi-mat-khong-ngo_Tin180.com_013.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 500px; height: 375px;" src="http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/9/files/2011/01/Thuyet-tien-hoa-va-nhung-bi-mat-khong-ngo_Tin180.com_013.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ota Benga tại sở thú Bronx Zoo vào năm 1906&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhưng đáng sợ thay, liệu Piltdown Man, Nebraska Man, Ota Benga, những cái phôi Haeckel… là tất cả hay chỉ là phần nổi của một tảng băng trôi bí ẩn khổng lồ? Bóng ma nào đang đùa giỡn với lịch sử chân thật của loài người?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tham khảo:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;[1] Malcolm Muggeridge, “Đoạn kết của những người theo đạo Cơ Đốc”, Grand Rapids, Eerdmans, 1980, trang 59.&lt;br /&gt;[2] Stephen Jay Gould, “Sự điên rồ của Smith Woodward”, New Scientist, 5/2/1979, trang 44.&lt;br /&gt;[3] Kenneth Oakley, William Le Gros Clark &amp; J. S, “Piltdown”, Meydan Larousse, Tập 10, trang 133.&lt;br /&gt;[4] Stephen Jay Gould, “Sự điên rồ của Smith Woodward”, New Scientist, 5/4/1979, trang 44.&lt;br /&gt;[5] W. K. Gregory, “Hesperopithecus: Rõ ràng chẳng phải khỉ cũng chẳng phải người”, Science, Tập 66, 12/1927, trang 579.&lt;br /&gt;[6] Philips Verner Bradford, Harvey Blume, “Ota Benga: Người Pygmy trong sở thú”, New York: Delta Books, 1992.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Minh Trí&lt;br /&gt;(tổng hợp)&lt;br /&gt;http://tin180.com/khoahoc/bi-an-the-gioi/20110127/thuyet-tien-hoa-va-nhung-bi-mat-khong-ngo.html &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/1383639910623827964-8986922031208831345?l=trungfq.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel="replies" type="application/atom+xml" href="http://trungfq.blogspot.com/feeds/8986922031208831345/comments/default" title="Đăng Nhận xét" /><link rel="replies" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/02/thuyet-tien-hoa-va-nhung-bi-mat-khong.html#comment-form" title="0 Nhận xét" /><link rel="edit" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/8986922031208831345?v=2" /><link rel="self" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/8986922031208831345?v=2" /><link rel="alternate" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/02/thuyet-tien-hoa-va-nhung-bi-mat-khong.html" title="Thuyết tiến hóa và những bí mật không ngờ (1)" /><author><name>Phạm Quang Trung</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14901332933612324160</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel="http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail" width="32" height="24" src="http://3.bp.blogspot.com/---EG_fDe9VI/TvB1ij_Gm0I/AAAAAAAAALg/BW3RCHyMMrg/s220/TRUNG.jpg" /></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry gd:etag="W/&quot;DE8EQHs4fSp7ImA9WhRVFE4.&quot;"><id>tag:blogger.com,1999:blog-1383639910623827964.post-5720040973469277396</id><published>2012-01-13T13:39:00.000+07:00</published><updated>2012-01-13T13:40:01.535+07:00</updated><app:edited xmlns:app="http://www.w3.org/2007/app">2012-01-13T13:40:01.535+07:00</app:edited><category scheme="http://www.blogger.com/atom/ns#" term="Ma-thi-ơ" /><title>Ma-thi-ơ (Đoạn 1-5)</title><content type="html">Ma-thi-ơ 1&lt;br /&gt;1 Gia phổ Đức Chúa Jêsus Christ, con cháu Đa-vít và con cháu Áp-ra-ham.&lt;br /&gt;2 Áp-ra-ham sanh Y-sác; Y-sác sanh Gia-cốp; Gia-cốp sanh Giu-đa và anh em người.&lt;br /&gt;3 Giu-đa bởi Tha-ma sanh Pha-rê và Xa-ra. Pha-rê sanh Ếch-rôm; Ếch-rôm sanh A-ram;&lt;br /&gt;4 A-ram sanh A-mi-na-đáp; A-mi-na-đáp sanh Na-ách-son; Na-ách-son sanh Sanh-môn.&lt;br /&gt;5 Sanh-môn bởi Ra-háp sanh Bô-ô. Bô-ô bởi Ru-tơ sanh Ô-bết. Ô-bết sanh Gie-sê;&lt;br /&gt;6 Gie-sê sanh vua Đa-vít.Đa-vít bởi vợ của U-ri sanh Sa-lô-môn.&lt;br /&gt;7 Sa-lô-môn sanh Rô-bô-am; Rô-bô-am sanh A-bi-gia; A-bi-gia sanh A-sa;&lt;br /&gt;8 A-sa sanh Giô-sa-phát; Giô-sa-phát sanh Giô-ram; Giô-ram sanh Ô-xia.&lt;br /&gt;9 Ô-xia sanh Giô-tam; Giô-tam sanh A-cha; A-cha sanh Ê-xê-chia.&lt;br /&gt;10 Ê-xê-chia sanh Ma-na-sê; Ma-na-sê sanh A-môn; A-môn sanh Giô-si-a.&lt;br /&gt;11 Giô-si-a đang khi bị đày qua nước Ba-by-lôn sanh Giê-chô-nia và anh em người.&lt;br /&gt;12 Khi đã bị đày qua nước Ba-by-lôn, thì Giê-chô-nia sanh Sa-la-thi-ên; Sa-la-thi-ên sanh Xô-rô-ba-bên;&lt;br /&gt;13 Xô-rô-ba-bên sanh A-bi-út; A-bi-út sanh Ê-li-a-kim; Ê-li-a-kim sanh A-xô.&lt;br /&gt;14 A-xô sanh Sa-đốc; Sa-đốc sanh A-chim; A-chim sanh Ê-li-út;&lt;br /&gt;15 Ê-li-út sanh Ê-lê-a-xa; Ê-lê-a-xa sanh Ma-than; Ma-than sanh Gia-cốp;&lt;br /&gt;16 Gia-cốp sanh Giô-sép là chồng Ma-ri; Ma-ri là người sanh Đức Chúa Jêsus, gọi là Christ.&lt;br /&gt;17 Như vậy, từ Áp-ra-ham cho đến Đa-vít, hết thảy có mười bốn đời; từ Đa-vít cho đến khi bị đày qua nước Ba-by-lôn, cũng có mười bốn đời; và từ khi bị đày qua nước Ba-by-lôn cho đến Đấng Christ, lại cũng có mười bốn đời.&lt;br /&gt;18 Vả, sự giáng sanh của Đức Chúa Jêsus Christ đã xảy ra như vầy: Khi Ma-ri, mẹ Ngài, đã hứa gả cho Giô-sép, song chưa ăn ở cùng nhau, thì người đã chịu thai bởi Đức Thánh Linh.&lt;br /&gt;19 Giô-sép, chồng người, là người có nghĩa, chẳng muốn cho người mang xấu, bèn toan đem để nhẹm.&lt;br /&gt;20 Song đang ngẫm nghĩ về việc ấy, thì thiên sứ của Chúa hiện đến cùng Giô-sép trong giấc chiêm bao, mà phán rằng: Hỡi Giô-sép, con cháu Đa-vít, ngươi chớ ngại lấy Ma-ri làm vợ, vì con mà người chịu thai đó là bởi Đức Thánh Linh.&lt;br /&gt;21 Người sẽ sanh một trai, ngươi khá đặt tên là Jêsus , vì chính con trai ấy sẽ cứu dân mình ra khỏi tội.&lt;br /&gt;22 Mọi việc đã xảy ra như vậy, để cho ứng nghiệm lời Chúa đã dùng đấng tiên tri mà phán rằng:&lt;br /&gt;23 Nầy, một gái đồng trinh sẽ chịu thai, và sanh một con trai,Rồi người ta sẽ đặt tên con trai đó là Em-ma-nu-ên;nghĩa là: Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta.&lt;br /&gt;24 Khi Giô-sép thức dậy rồi, thì làm y như lời thiên sứ của Chúa đã dặn, mà đem vợ về với mình;&lt;br /&gt;25 song không hề ăn ở với cho đến khi người sanh một trai, thì đặt tên là Jêsus.&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/1383639910623827964-5720040973469277396?l=trungfq.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel="replies" type="application/atom+xml" href="http://trungfq.blogspot.com/feeds/5720040973469277396/comments/default" title="Đăng Nhận xét" /><link rel="replies" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/01/ma-thi-o-oan-1-5.html#comment-form" title="0 Nhận xét" /><link rel="edit" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/5720040973469277396?v=2" /><link rel="self" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/5720040973469277396?v=2" /><link rel="alternate" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/01/ma-thi-o-oan-1-5.html" title="Ma-thi-ơ (Đoạn 1-5)" /><author><name>Phạm Quang Trung</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14901332933612324160</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel="http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail" width="32" height="24" src="http://3.bp.blogspot.com/---EG_fDe9VI/TvB1ij_Gm0I/AAAAAAAAALg/BW3RCHyMMrg/s220/TRUNG.jpg" /></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry gd:etag="W/&quot;DEQFQH04fSp7ImA9WhRVF0g.&quot;"><id>tag:blogger.com,1999:blog-1383639910623827964.post-7791382132320936464</id><published>2012-01-13T13:29:00.007+07:00</published><updated>2012-01-17T06:25:11.335+07:00</updated><app:edited xmlns:app="http://www.w3.org/2007/app">2012-01-17T06:25:11.335+07:00</app:edited><category scheme="http://www.blogger.com/atom/ns#" term="CÁC SÁCH TÂN ƯỚC" /><title>CÁC SÁCH TÂN ƯỚC</title><content type="html">&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;div id=""&gt; &lt;ul&gt; &lt;li&gt;&lt;a href="http://trungfq.blogspot.com/2012/01/ma-thi-o-oan-1-5.html"target="_blank"&gt;Ma-thi-ơ &lt;/a&gt;&lt;/li&gt; &lt;li&gt;&lt;a href="http:///"target="_blank"&gt;Mác &lt;/a&gt;&lt;/li&gt; &lt;li&gt;&lt;a href="http://"target="_blank"&gt;Lu-ca&lt;/a&gt;&lt;/li&gt; &lt;li&gt;&lt;a href="#"target="_blank"&gt;Giăng&lt;/a&gt;&lt;/li&gt; &lt;li&gt;&lt;a href="http://"target="_blank"&gt;Công vụ các sứ đồ &lt;/a&gt;&lt;/li&gt; &lt;li&gt;&lt;a href="http:// "target="_blank"&gt;Rô-ma&lt;/a&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;a href="http://"target="_blank"&gt;1Cô-rinh-tô&lt;/a&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;a href="http://"target="_blank"&gt;2Cô-rinh-tô&lt;/a&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;a href="http://"target="_blank"&gt;Ga-la-ti&lt;/a&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;a href="http:// "target="_blank"&gt;Ê-phê-sô&lt;/a&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;a href="http://"target="_blank"&gt;Phi-líp&lt;/a&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;a href="http://"target="_blank"&gt;Cô-lô-se&lt;/a&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;a href="http://"target="_blank"&gt;1Tê-sa-lô-ni-ca&lt;/a&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;a href="http://"target="_blank"&gt;2Tê-sa-lô-ni-ca&lt;/a&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;a href="http://"target="_blank"&gt;1Ti-mô-thê&lt;/a&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;a href="http://"target="_blank"&gt;2Ti-mô-thê&lt;/a&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;a href="http://"target="_blank"&gt;Tít&lt;/a&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;a href="http://"target="_blank"&gt;Phi-lê-môn&lt;/a&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;a href="http://"target="_blank"&gt;Hê-bơ-rơ&lt;/a&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;a href="http://"target="_blank"&gt;Gia-cơ&lt;/a&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;a href="http://"target="_blank"&gt;1Phi-e-rơ&lt;/a&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;a href="http://"target="_blank"&gt;2Phi-e-rơ&lt;/a&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;a href="http://"target="_blank"&gt;1Giăng&lt;/a&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;a href="http://"target="_blank"&gt;2Giăng&lt;/a&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;a href="http://"target="_blank"&gt;3Giăng&lt;/a&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;a href="http://"target="_blank"&gt;Giu-đe&lt;/a&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;a href="http://"target="_blank"&gt;Khải huyền&lt;/a&gt;&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt; &lt;/div&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/1383639910623827964-7791382132320936464?l=trungfq.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel="replies" type="application/atom+xml" href="http://trungfq.blogspot.com/feeds/7791382132320936464/comments/default" title="Đăng Nhận xét" /><link rel="replies" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/01/cac-sach-tan-uoc.html#comment-form" title="0 Nhận xét" /><link rel="edit" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/7791382132320936464?v=2" /><link rel="self" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/7791382132320936464?v=2" /><link rel="alternate" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/01/cac-sach-tan-uoc.html" title="CÁC SÁCH TÂN ƯỚC" /><author><name>Phạm Quang Trung</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14901332933612324160</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel="http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail" width="32" height="24" src="http://3.bp.blogspot.com/---EG_fDe9VI/TvB1ij_Gm0I/AAAAAAAAALg/BW3RCHyMMrg/s220/TRUNG.jpg" /></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry gd:etag="W/&quot;D0QGSXcyfSp7ImA9WhRVEEQ.&quot;"><id>tag:blogger.com,1999:blog-1383639910623827964.post-8702715502453880292</id><published>2012-01-09T00:38:00.002+07:00</published><updated>2012-01-09T14:48:48.995+07:00</updated><app:edited xmlns:app="http://www.w3.org/2007/app">2012-01-09T14:48:48.995+07:00</app:edited><category scheme="http://www.blogger.com/atom/ns#" term="Danh ngon" /><title>Danh ngôn về Chúa</title><content type="html">Christopher Columbus (1451-1506) a navigator, colonizer, and explorer&lt;br /&gt;It was the Lord who put it into my mind,&lt;br /&gt;(I could feel His hand upon me), the fact that it would be possible to sail from here to the Indies. All who heard of my project rejected it with laughter, ridiculing me. There is no question that the inspiration was from the Holy Spirit, because He comforted me with rays of marvelous inspiration from the Holy Scriptures.....&lt;br /&gt;- An&lt;br /&gt;Inspiring Testimony: from&lt;br /&gt;the Diary of&lt;br /&gt;Christopher Columbus&lt;br /&gt;&lt;span class="fullpost"&gt;Galileo (1564-1642)&lt;br /&gt;"I think that in the discussion of natural problems we ought to begin not with the Scripture, but with experiments, and demonstrations."&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Blaise Pascal (1623-1662)&lt;br /&gt;“There are only three types of people; those who have found God and serve him; those who have not found God and seek him, and those who live not seeking, or finding him. The first are rational and happy; the second unhappy and rational, and the third foolish and unhappy.”&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;“There is a God shaped vacuum in the heart of every man which cannot be filled by any created thing, but only by God, the Creator, made known through Jesus”&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Sir Isaac Newton (1643-1727)&lt;br /&gt;" The Supreme God is a Being eternal, infinite, absolutely perfect; but a being, however perfect, without dominion, cannot be said to be Lord God... And from his true dominion it follows that the true God is a living, intelligent, and powerful Being; and, from his other perfections, that he is supreme, or most perfect. He is eternal and infinite, omnipotent and omniscient; that is, his duration reaches from eternity to eternity; his presence from infinity to infinity; he governs all things, and knows all things that are or can be doe.... "&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Carl Gustav Jung&lt;br /&gt;“God is the name by which I designate all things which cross my path violently and recklessly, all things which alter my plans and intentions, and change the course of my life, for better or for worse.”&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;René Descartes&lt;br /&gt;"I experienced in myself a certain capacity for judging which I have doubtless received from God, like all the other things that I possess; and as He could not desire to deceive me, it is clear that He has not given me a faculty that will lead me to err if I use it aright." - (Meditationes de Prima Philosophia (Meditations on First Philosophy) [LATIN])&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Ludwig van Beethoven (1770 - 1827) - German Composer&lt;br /&gt;“No friend have I. I must live by myself alone; but I know well that God is nearer to me than others in my art, so I will walk fearlessly with Him.”&lt;br /&gt;  Napoleon Bonaparte - French General, Politician and Emperor 1769-1821&lt;br /&gt;"I know men and I tell you that Jesus Christ is no mere man. Between Him and every other person in the world there is no possible term of comparison. Alexander, Caesar, Charlemagne, and I have founded empires. But on what did we rest the creation of our genius? Upon force. Jesus Christ founded His empire upon love; and at this hour millions of men would die for Him."&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Blaise Pascal - 17th century mathematical genius&lt;br /&gt;"Jesus is the God whom we can approach without pride and before whom we can humble ourselves without despair."&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;J. S. Bach (1685-1750)- a German composer, organist, harpsichordist, violist, and violinist&lt;br /&gt;"Music is an agreeable harmony for the honor of God and the permissible delights of the soul."&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Leo Tolstoy, the great genius of Russian letters&lt;br /&gt;"For thirty five years of my life I was, in the proper acceptation of the word, nihilist, a man who believed in nothing. Five years ago my faith came to me. I believed in the doctrine of Jesus Christ and my whole life underwent a sudden transformation. Life and death ceased to be evil. Instead of despair, I tasted joy and happiness that death could not take away."&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Fyodor Mikhailovich Dostoevsky (1821-1881) a Russian writer.&lt;br /&gt;If anyone could prove to me that Christ is outside the truth, and if the truth really did exclude Christ, I should prefer to stay with Christ and not with truth.&lt;br /&gt;Letter To Mme. N. D. Fonvisin (1854), as published in Letters of Fyodor Michailovitch Dostoevsky to his Family and Friends (1914), translated by Ethel Golburn Mayne, Letter XXI, p. 71&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Wolfgang Amadeus Mozart (1756 - 1791) the most enduringly popular of classical composers&lt;br /&gt;"I live with God ever before me. I recognize His omnipotence, I fear His anger; I acknowledge His love, too, His compassion and mercy towards all His creatures; He will never desert those who serve Him." Wolfgang Amadeus Mozart as documented by Kerst and Krehbiel in "Beethoven: The Man And The Artist, As Revealed In His Own Words," p. 101, 104-106.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Michael Faraday (1791-1867)&lt;br /&gt;"My worldly faculties are slipping away day by day Happy it is for all of us that the true good does not lie in them. As they ebb, may they leave us as little children, trusting in the Father of Mercies and accepting His unspeakable gift. I bow before Him who is Lord of all." Michael Faraday, on his death bed, one of the greatest experimental philosophers; Doctorate from Oxford University, holding 97 unsought for distinctions who discovered Electricity&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Louis Pasteur (1822 – 1895)&lt;br /&gt;"Science brings men nearer to God. "&lt;br /&gt;As quoted in Letter to an Atheist (2007) by Michael Patrick Leahy, p. 61&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Charles Dickens (1812-1870) - English novelist&lt;br /&gt;“The New Testament is the very best book that ever was or ever will be known in the world.”&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;John D. Rockefeller (1839-1937)&lt;br /&gt;“God gave me my money. I believe the power to make money is a gift from God . to be developed and used to the best of our ability for the good of mankind. Having been endowed with the gift I possess, I believe it is my duty to make money and still more money and to use the money I make for the good of my fellow man according to the dictates of my conscience.”&lt;br /&gt;John D. Rockefeller - American Industrialist and Philanthropist, founder of the Standard Oil Company. 1839-1937 &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Max Weber (1864-1920 ) - the greatest sociologist&lt;br /&gt;"The world exists to serve the glorification of God and for that purpose alone. The elected Christian is in the world only to increase this glory of god by fulfilling His commandments to the best of his ability. But God requires social achievement of the Christian because He will that social life shall be organized according to His commandments, in accordance with that purpose." &lt;br /&gt;(The Protestant Ethic and the Spirit of Capitalism. Translated by Talcott Parsons. New York: Charles Scribner's Sons -1930, p. 108)&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Tôn Dật Tiên (1866-1925)&lt;br /&gt;“Chừng nào Trung Hoa không chịu từ bỏ các mê tín sùng bái hình tượng, thì chẳng có một tiến bộ nào có thể thực hiện cho tiền đồ dân tộc được”-"Tôn Dật Tiên, người giải phóng Trung Hoa" của Giám mục Henry Bond Restarick,Người dịch: Nguyễn Sinh Duy, Nxb Đà Nẵng, 2000.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Phan Bội Châu (1867-1940)&lt;br /&gt;"Gia-tô bị hại đóng đinh vào cây thập tự. Nhưng cũng chỉ làm cho khí tiết thêm bền chắc, làm cho sự can trường thêm cứng rắn. Đá vàng có thể vỡ, sông biển có thể nhào, nhưng qua nghìn vạn năm con người ấy vẫn được sùng bái thờ phụng. Thật cũng xứng đáng."&lt;br /&gt;Việt Nam quốc sử khảo, tr. 146-149, nxb Giáo dục, Hà Nội 1962&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Albert Einstein (1879-1955)&lt;br /&gt;“Có một linh hồn ẩn chứa trong những quy luật của vũ trụ, một linh hồn cao cả hơn linh hồn của con người, và một khi đối mặt với linh hồn đó, chúng ta, với sức mạnh khiêm tốn, cảm thấy nhỏ bé biết chừng nào. Bằng cách đó, theo đuổi khoa học dẫn tới một cảm giác sùng bái đặc biệt.”&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Hồ Chí Minh (1890-1969)&lt;br /&gt;"Đồng bào vẫn cầu nguyện Chúa luôn luôn ban phúc cho dân tộc ta, vì tự vệ mà phải chống giặc. Nhờ Chúa mà đến nay, dân tộc ta đã đoàn kết, càng đoàn kết hơn, sức kháng chiến của ta đã hùng mạnh, càng thêm hùng mạnh. Thắng lợi ngày càng gần.Hôm nay, đồng bào lễ Chúa trong một bầu không khí chiến tranh, vì giặc Pháp còn đang giày xéo trên đất nước ta. Song rồi đây, thắng lợi sẽ cho chúng ta lễ Chúa long trọng hơn, trong một bầu không khí vui vẻ và tươi sáng của một nước hoàn toàn thống nhất và độc lập. Vậy đồng bào hãy cùng tôi cầu nguyện Chúa cho ngày thắng lợi sắp tới của dân tộc. Tôi cầu nguyện Chúa luôn luôn ban phúc cho đồng bào."&lt;br /&gt;(Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, NXB Chính trị Quốc gia - 2000, trang 274)&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Charles Darwin (1809-1882)&lt;br /&gt;"Quan niệm về sự sống này [tức là thuyết tiến hóa] có vài điểm mạnh. Đầu tiên được Đấng Tạo Hóa truyền hơi thở vào để thành một hay vài thể sống đơn giản nhất. Từ một sự bắt đầu đơn giản đó đã và đang tiến hóa ra vô số những sinh thể đẹp và kỳ diệu nhất trong khi hành tinh này vẫn xoay vần theo đinh luật hấp dẫn cố định.”&lt;br /&gt;"There is grandeur in this view of life, with its several powers, having been originally breathed by the Creator into a few forms or into one; and that, whilst this planet has gone cycling on according to the fixed law of gravity, from so simple a beginning endless forms most beautiful and most wonderful have been, and are being, evolved." &lt;br /&gt;-The Origin of Species, Random House-p. 649&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Martin Luther King Jr., American civil rights leader (1929-68)&lt;br /&gt;“Jesus Christ was an extremist for love, truth and goodness.”&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Henry Ford : American industrialist, pioneer automobile manufacturer (1863-1947)&lt;br /&gt;"I believe God is managing affairs and that He doesn't need any advice from me. With God in charge, I believe everything will work out for the best in the end. So what is there to worry about."&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Mahatma Gandhi, Indian political leader (1869-1948)&lt;br /&gt;"A man[Jesus] who was completely innocent, offered himself as a sacrifice for the good of others, including his enemies, and became the ransom of the world. It was a perfect act.”&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Albert Einstein, physicist and atheist (1879-1955)&lt;br /&gt;“As a child I received instruction both in the Bible and in the Talmud. I am a Jew, but I am enthralled by the luminous figure of the Nazarene….No one can read the Gospels without feeling the actual presence of Jesus. His personality pulsates in every word. No myth is filled with such life.”&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Walter Elias Disney (1901-1966)- an American film producer, director, voice actor, and animator&lt;br /&gt;Every person has his own ideas of the act of praying for God's guidance, tolerance, and mercy to fulfill his duties and responsibilities. My own concept of prayer is not as a plea for special favors nor as a quick palliation for wrongs knowingly committed. A prayer, it seems to me, implies a promise as well as a request; at the highest level, prayer not only is a supplication for strength and guidance, but also becomes an affirmation of life and thus a reverent praise of God.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Clive Staples Lewis (1898-1963)&lt;br /&gt;"Tôi đang ở đây để cố gắng ngăn cản bất kỳ ai nói những điều thực sự ngu ngốc mà người ta thường nói về Người: "Tôi sẵn sàng chấp nhận Giê-su là người thầy đạo đức vĩ đại, nhưng tôi không chấp nhận chuyện Người xưng mình là Chúa"...Bạn phải đưa ra lựa chọn của mình. Con Người này đã từng là con của Đức Chúa Trời, nếu không thì là một người điên hoặc là cái gì đó còn tệ hơn. Bạn có thể khiến Người im lặng vì là một kẻ ngốc nghếch, bạn có thể xẻ thịt Người và giết Người như là một tên yêu ma hoặc bạn có thể nằm phủ phục dưới chân Người và gọi Người là Chủ nhân hay Chúa."&lt;br /&gt;I am trying here to prevent anyone from saying the really foolish thing that people often say about Him [Jesus Christ]: "I'm ready to accept Jesus as a great moral teacher, but I don't accept his claim to be God."&lt;br /&gt;That is the one thing we must not say. A man who was merely a man and said the sort of things Jesus said wouldnot be a great moral teacher. He would either be a lunatic -- on a level with a man who says he is a poached egg -- or else he would be the Devil of Hell.&lt;br /&gt;You must make your choice. Either this man was, and is,the Son of God,: or else a madman or something worse .... You can shut him up for fool, you can spit at him and kill him as a demon; or you can fall at his feet and call him Lord and God. But let us not come up with any patronizing nonsense about his being a great humanteacher. He has not left that option open to us. He did not intend to.&lt;br /&gt;(Mere Christianity p.31- by C.S. Lewis )&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Hillary Clinton (sinh năm 1947)&lt;br /&gt;“Bạn phải đấu tranh với cảm giác tuyệt vọng và tình trạng không được giúp đỡ trong cuộc đời của chính bạn cũng như trong cuộc sống của những người xung quanh… Tôi được nuôi dưỡng và ban phước lành là một niềm tin tôn giáo - điều đã cho tôi rất nhiều thứ mà tôi phải báo đáp” &lt;br /&gt;Osborne, Unique Voice of Hillary Rodham Clinton, trang 89-90&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Tiến sỹ Francis S.Collins - Giám đốc dự án giải mã gien người&lt;br /&gt;"Lĩnh vực hoạt động chính của khoa học là để khám phá ra tự nhiên. Còn lĩnh vực hoạt động chính của Chúa là trong thế giới tâm linh, một thế giới hoàn toàn không thể khám phá bằng các công cụ hay ngôn ngữ của khoa học. Chúng ta cần phải kiểm nghiệm điều đó bằng trái tim, trí óc và linh hồn." (Ngôn ngữ của Chúa, NXB Lao Động-2007, trang17)&lt;br /&gt; &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/1383639910623827964-8702715502453880292?l=trungfq.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel="replies" type="application/atom+xml" href="http://trungfq.blogspot.com/feeds/8702715502453880292/comments/default" title="Đăng Nhận xét" /><link rel="replies" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/01/danh-ngon-ve-chua.html#comment-form" title="0 Nhận xét" /><link rel="edit" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/8702715502453880292?v=2" /><link rel="self" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/8702715502453880292?v=2" /><link rel="alternate" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/01/danh-ngon-ve-chua.html" title="Danh ngôn về Chúa" /><author><name>Phạm Quang Trung</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14901332933612324160</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel="http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail" width="32" height="24" src="http://3.bp.blogspot.com/---EG_fDe9VI/TvB1ij_Gm0I/AAAAAAAAALg/BW3RCHyMMrg/s220/TRUNG.jpg" /></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry gd:etag="W/&quot;D0UMQXo6eip7ImA9WhRVEEQ.&quot;"><id>tag:blogger.com,1999:blog-1383639910623827964.post-3074094225974756352</id><published>2012-01-08T11:49:00.001+07:00</published><updated>2012-01-09T14:48:00.412+07:00</updated><app:edited xmlns:app="http://www.w3.org/2007/app">2012-01-09T14:48:00.412+07:00</app:edited><category scheme="http://www.blogger.com/atom/ns#" term="Danh ngon" /><title>Danh ngôn về Kinh Thánh</title><content type="html">Immanuel Kant (1724-1804) - nhà tư tưởng học người Đức&lt;br /&gt;“Tôi tin Kinh Thánh đã mang lại mối lợi lớn lao nhất cho cả nhân loại. Tất cả những cố gắng làm giảm thiểu giá trị của Kinh Thánh là một tội ác chống lại con người.”&lt;br /&gt;"The existence of the Bible is a book for the people. It's the greatest benefit the human race has ever experienced. Every attempt to belittle it is a crime against humanity." &lt;br /&gt; &lt;span class="fullpost"&gt;W. Clement Stone (1902– 2002) was a businessman, philanthropist and self-help book author&lt;br /&gt;The Bible was “the world's greatest self-help book."&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Og Mandino (1923-1996) - American Essayist and Psychologist&lt;br /&gt;“Count your blessings. Once you realize how valuable you are and how much you have going for you, the smiles will return, the sun will break out, the music will play, and you will finally be able to move forward the life that God intended for you with grace, strength, courage, and confidence.”&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, George Washington (1732 - 1799)&lt;br /&gt;“Không sao có thể lãnh đạo thế giới một cách đúng đắn nếu không có Chúa và Kinh Thánh”.&lt;br /&gt;President George Washington, First President of the United States&lt;br /&gt;“It is impossible to rightly govern the world without God and Bible.”&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Goethe, German writer and scientist, 1749-1832&lt;br /&gt;“I look upon all four Gospels as thoroughly genuine, for there shines forth from them the reflected splendor of a sublimity proceeding from Jesus Christ.”&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Hoàng đế Pháp Napoleon (1769-1821)&lt;br /&gt;“Kinh Thánh không chỉ là một quyển sách, nhưng là một thực thể sống động, với tác động, với năng quyền, tiến chiếm mọi vật làm cản trở ảnh hưởng của nó. Quyển sách này vượt xa hẳn tất cả sách vở khác. Tôi không bao giờ bỏ qua và đọc nó mỗi ngày với một niềm hạnh phúc”.&lt;br /&gt;Napoleon, Emperor of the French (1804-1814), 1769-1821 &lt;br /&gt;“The gospel is not a book; it is a living being, with an action, a power, which invades every thing that opposes its extension, behold! It is upon this table: This book, surpassing all others. I never omit to read it, and every day with some pleasure.”&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Daniel Webster, American politician and noted orator, 1782-1852&lt;br /&gt;“Education is useless without the Bible.”&lt;br /&gt;Giáo dục là vô dụng nếu không có Kinh Thánh.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Nhà bác học Newton (1642-1727)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Chúng ta cho rằng Kinh Thánh là một triết lý nông cạn nhất. Nhưng tôi tìm thấy nhiều điều chân thật trong Kinh Thánh hơn bất cứ sử liệu nào của thế gian.”&lt;br /&gt;Isaac Newton &lt;br /&gt;“We account the scriptures of God to be the most sublime philosophy. I find more sure marks of authenticity in the Bible than in any profane history whatsoever.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Văn hào Pháp Victor Hugo (1802-1885)&lt;br /&gt;“Nước Anh có hai quyển sách: Kinh Thánh và Shakespeare. Nước Anh đã sinh ra Shakespeare, nhưng Kinh Thánh đã sinh ra nước Anh.”&lt;br /&gt;Victor Hugo, French writer, 1802-1885 &lt;br /&gt;“England has two books; the Bible and Shakespeare. England made Shakespeare, but the Bible made England.” &lt;br /&gt;Abraham Lincoln, 16th President of the United States, 1809-1865&lt;br /&gt;“I believe the Bible is the best gift God has ever given to man. All the good of the Savior of the world is communicated to us through the Book.But for it we could not know right from wrong.”&lt;br /&gt;(Speeches and Writings, 1859–1865 [1989], 628). &lt;br /&gt;“Tôi tin Kinh Thánh là món quà quý báu nhất mà Thượng Đế đã ban cho loài người. Tất cả những điều tốt lành mà Đấng Cứu Rỗi ban cho thế gian đã được ghi chép trong suốt quyển kinh này. Nếu không có quyển kinh đó, chúng ta sẽ không biết được điều đúng với điều sai”&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Zig Ziglar - an American author, salesperson, and motivational speaker&lt;br /&gt;God's Way Is Still the Best Way.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;John C. Maxwell - an evangelical Christian author, speaker, and pastor&lt;br /&gt;"You have to live with the people to know their needs, and you have to live with God to know how to solve them."&lt;br /&gt; &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/1383639910623827964-3074094225974756352?l=trungfq.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel="replies" type="application/atom+xml" href="http://trungfq.blogspot.com/feeds/3074094225974756352/comments/default" title="Đăng Nhận xét" /><link rel="replies" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/01/danh-ngon-ve-kinh-thanh.html#comment-form" title="0 Nhận xét" /><link rel="edit" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/3074094225974756352?v=2" /><link rel="self" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/3074094225974756352?v=2" /><link rel="alternate" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2012/01/danh-ngon-ve-kinh-thanh.html" title="Danh ngôn về Kinh Thánh" /><author><name>Phạm Quang Trung</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14901332933612324160</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel="http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail" width="32" height="24" src="http://3.bp.blogspot.com/---EG_fDe9VI/TvB1ij_Gm0I/AAAAAAAAALg/BW3RCHyMMrg/s220/TRUNG.jpg" /></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry gd:etag="W/&quot;DEMARXs-eCp7ImA9WhdSFk0.&quot;"><id>tag:blogger.com,1999:blog-1383639910623827964.post-5423320878712360794</id><published>2011-07-25T22:06:00.000+07:00</published><updated>2011-07-25T22:07:24.550+07:00</updated><app:edited xmlns:app="http://www.w3.org/2007/app">2011-07-25T22:07:24.550+07:00</app:edited><category scheme="http://www.blogger.com/atom/ns#" term="Thơ ca" /><title>Thư cha gửi con yêu dấu</title><content type="html">LỜI sau đây mà bạn sẽ đọc hay nghe là Sự Thật, LỜI từ Thánh Kinh. LỜI ấy sẽ làm thay đổi cuộc đời của bạn nếu như bạn nghe và đón nhận vì Lời ấy đến từ trái tim rất yêu dấu của CHA, Người rất yêu bạn và Người là CHA, là TÌNH YÊU mà bạn đã và đang kiếm tìm trong suốt cuộc đời của bạn. Đây là lá thư TÌNH YÊU của CHA gửi cho bạn&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Con yêu dấu của Cha,&lt;br /&gt;Con có thể chưa biết TA, nhưng TA biết rất rõ về con (Thi thiên 139:1). Trước khi cho con thành hình trong bụng mẹ, TA đã biết con; trước khi con lọt lòng mẹ, TA đã thánh hoá con. (Giê-rê-mi 1:5) TA đã nâng con từ trong lòng mẹ, đã hứng các con từ lúc chưa chào đời. (Ê-sai 46,3b) Tạng phủ của con chính TA đã cấu tạo, đã dệt hình hài con trong dạ mẫu thân con. (Thi thiên 139:13) Ngày con mới là bào thai, mắt TA đã thấy. Mọi ngày đời được dành sẵn cho con đều thấy ghi trong sổ sách của TA, trước khi ngày đầu của đời của con khởi sự. (Thi thiên 139:16)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TA biết cả khi con đứng, con ngồi. Con nghĩ tưởng gì, TA đều thấu xuất. Con đi, con nghỉ TA đều xem xét, mọi nẻo đường con đi, TA đều quen thuộc cả. Miệng lưỡi con chưa thốt nên lời, thì TA đã am tường hết. (Thi thiên 139:2-4). Ngay đến tóc trên đầu của con, TA cũng đã đếm cả rồi. (Ma-thi-ơ10:29) Con là con của TA, TA đã sinh ra con. (Thi thiên 2:7) TA đã tạo dựng con theo hình ảnh của TA (Sáng thế ký 1:27) Con được dựng nên cách lạ lùng, công trình TA kỳ diệu biết bao (Thi thiên 139:14)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ thuở sơ sinh, con nương tựa vào TA. (Thi thiên71:6) Con được nuôi bằng sữa mẹ, được bồng ẵm bên hông, nâng niu trên đầu gối. (Ê-sai66,12) Chính ở trong TA mà con sống, con hoạt động và hiện hữu. Con thuộc giòng giống của TA. (Công vụ17:28) TA làm nên mọi sự theo quyết định và ý muốn của TA. TA đã tiền định cho con làm cơ nghiệp riêng theo kế hoạch của TA. (Ê-phê-sô 1:11) TA lấy dây nhân nghĩa, lấy mối ân tình mà lôi kéo con. TA đối xử với con như người mẹ nựng trẻ thơ, TA nâng con lên áp vào má; TA cúi xuống gần con mà đút cho con ăn. (Ô-sê11,4) TA đã tập đi cho con, đã đỡ cánh TAy con, nhưng con không hiểu là TA chữa lành con. (Ô-sê11,3) Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau? Cho dù người mẹ có quên con mình đi nữa, thì TA, TA cũng sẽ chẳng quên con bao giờ. (Ê-sai49,15) Như mẹ hiền an ủi con thơ, TA sẽ an ủi con như vậy. (Ê-sai 66:13) Con có phải là đứa con TA yêu dấu, một đứa con TA rất mực mến yêu? Vì mỗi lần nhắc tới con, TA lại thấy nhớ thương, nên lòng TA bồi hồi thổn thức, TA thương con, thương con thật nhiều. (Giê-rê-mi 31:20) Vì con, nước mắt TA chan hòa. (Ê-sai 16:9)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hãy xem, TA đã ghi khắc con trong lòng bàn TAy TA. (Ê-sai49,16) Cho dù trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác làm chi cũng không có gì tách được con ra khỏi tình yêu của TA. (Rô-ma 8:38) Cho đến khi con già nua tuổi tác, trước sau gì TA vẫn là TA; cho đến khi con da mồi tóc bạc, TA vẫn còn gánh vác con. Như xưa nay TA vẫn từng đối xử: TA sẽ nâng niu, gánh vác con, và ban ơn cứu thoát. (Ê-sai 46:4) &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hãy xem TA yêu con dường nào: TA yêu con đến nỗi cho con được là con của TA (1Giăng 3:1) Nếu người cha trần thế vốn là kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình những điều tốt, thì huống gì TA là Cha ở trên trời lại không ban cho con những điều tốt lành sao? (Ma-thi-ơ7:11) TA yêu con đến nỗi đã ban Con Một của TA, để con tin vào Con của TA thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời (Giăng 3:16) TA đã yêu thương con như TA đã yêu thương Con Một của TA (Giăng 17:23).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mọi ơn lành, và mọi phúc lộc hoàn hảo đều do TA từ trên tuôn xuống. (Gia-cơ 1:17). Vậy, TA cho con biết: đừng lo cho mạng sống mình: lấy gì mà ăn; cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc. Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao? (Ma-thi-ơ 6:15) CHA của con trên trời thừa biết con cần tất cả những thứ đó (Ma-thi-ơ6:32) Các kế hoạch TA định làm cho con là kế hoạch thịnh vượng, chứ không phải TAi ương, để con có một tương lai và niềm hy vọng (Giê-rê-mi 29:11) TA đã yêu con bằng mối tình muôn thuở, nên TA vẫn dành cho con lòng xót thương. (Giê-rê-mi31,3b)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vì con, TA sẽ vui mừng hoan hỷ, sẽ lấy tình thương của TA mà đổi mới con. Vì con, TA sẽ nhảy múa tưng bừng (Sô-phô-ni3:17). TA không ngừng thi ân cho con, cũng như ban cho con lòng kính sợ TA để con không xa rời TA nữa (Giê-rê-mi32:40). TA lấy làm vui mà thi ân giáng phúc cho con và đem hết lòng tác tạo con (Giê-rê-mi32:41). TA có thể dùng quyền năng đang hoạt động nơi con, mà làm hơn gấp ngàn lần điều con có thể cầu xin hay nghĩ tới. (Ê-phê-sô 3:20) TA sẽ tỏ cho con biết những điều lớn lao và bí ẩn mà con không biết (Giê-rê-mi 33:3) Con sẽ thấy TA nếu con hết lòng hết dạ kiếm tìm TA. (Phục truyền luật lệ ký 4:29)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đừng sợ hãi, hỡi con, có TA ở với con. (Ê-sai41:10) Đừng run khiếp, đừng sợ hãi, vì TA, Thiên Chúa của con, sẽ ở với con bất cứ nơi nào con đi tới." (Giô-suê1:9) Đừng sợ, dù con có bị chống đối, có gặp chông Giăngi tư bề, hay ngồi trên bò cạp. (Ê-xê-chi-ên 2:6) Đừng sợ các nỗi đau khổ con sắp phải chịu. Hãy trung thành cho đến chết, và TA sẽ ban cho con triều thiên sự sống. (Khải huyền 2:10) Đừng sợ, con còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ. (Lu-ca12:6) Vì trước mắt TA, con thật quý giá, vốn được TA trân trọng và mến thương. (Ê-sai43,4)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có dân tộc vĩ đại nào đến nỗi được thần minh ở gần, như TA, Thiên Chúa của con, ở gần con, mỗi khi con kêu cầu TA. (Phục truyền luật lệ ký 4:7). Chính TA là Đấng canh giữ con, chính TA là Đấng vẫn chở che, TA luôn luôn ở gần kề con. (Thi thiên121:5) TA ấp ủ, dưỡng dục, luôn giữ gìn con, chẳng khác nào con ngươi trong mắt TA, tựa như chim bằng trên tổ lượn quanh, giục bầy con bay nhảy, xoè cánh ra đỡ lấy rồi cõng con trên mình. (Phục truyền luật lệ ký 32:10-11) TA ở gần khi tấm lòng con TAn vỡ, cứu con khi tâm thần thất vọng ê chề. (Thi thiên34:19) Như mục tử, TA chăn giữ đoàn chiên của TA, tập trung cả đoàn chiên dưới cánh TAy TA. Còn chiên con, TA ấp ủ vào lòng. (Ê-sai 40:11) TA sẽ lau sạch nước mắt con. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa. (Khải huyền 21:3-4)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; Này, Ta đứng bên cửa mà gõ; nếu con nghe tiếng Ta mà mở cửa ra, Ta sẽ vào với con; Ta sẽ ăn tối với con (Khải huyền 3:20b), Trên trời ai nấy sẽ vui mừng vì nếu con tội lỗi nhưng ăn năn sám hối. (Lu-ca15:7) Đừng xé áo, nhưng hãy xé lòng. Hãy trở về cùng TA là Thiên Chúa của con, bởi vì TA từ bi và nhân hậu, chậm giận và giàu tình thương. (Giô-ên 2:13). Nếu con biết hạ mình xuống khẩn nguyện và tìm kiếm Nhan TA, từ bỏ những con đường xấu xa mà trở lại, thì TA, từ trời, TA sẽ nghe và thứ tha tội lỗi con. TA sẽ ghé mắt nhìn và lắng TAi nghe lời cầu nguyện con dâng lên. (2Sử ký 7:14) TA không cứ tội con mà xét xử, không trả báo con xứng với lỗi lầm. Như trời xanh trổi cao hơn mặt đất, tình yêu TA thương kẻ thờ TA cũng trổi cao. Như đông tây cách xa nhau ngàn dặm, tội con đã phạm, TA cũng ném thật xa TA. Như người cha chạnh lòng thương con cái, TA cũng chạnh lòng thương kẻ kính thờ TA. (Thi thiên103:10-13) Con chỉ có một Cha là Cha trên trời. (Ma-thi-ơ23:9). TA là Cha của con, và con là con trai, con gái của TA. (2Cô-rinh-tô 6:18) Con, con là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của TA. (1Phi-e-rơ2:9) TA là Thiên Chúa phán: "TA là An-pha và Ô-mê-Giăng, là Đấng hiện có, đã có và đang đến, là Đấng Toàn Năng." (Khải huyền 22:13)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TA thương con, thương con thật nhiều, (Giê-rê-mi31:20)&lt;br /&gt;CHA của con,&lt;br /&gt;GIÊ HÔ VA – ĐỨC CHÚA TRỜI&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(St)&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/1383639910623827964-5423320878712360794?l=trungfq.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel="replies" type="application/atom+xml" href="http://trungfq.blogspot.com/feeds/5423320878712360794/comments/default" title="Đăng Nhận xét" /><link rel="replies" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2011/07/thu-cha-gui-con-yeu-dau.html#comment-form" title="0 Nhận xét" /><link rel="edit" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/5423320878712360794?v=2" /><link rel="self" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/5423320878712360794?v=2" /><link rel="alternate" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2011/07/thu-cha-gui-con-yeu-dau.html" title="Thư cha gửi con yêu dấu" /><author><name>Phạm Quang Trung</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14901332933612324160</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel="http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail" width="32" height="24" src="http://3.bp.blogspot.com/---EG_fDe9VI/TvB1ij_Gm0I/AAAAAAAAALg/BW3RCHyMMrg/s220/TRUNG.jpg" /></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry gd:etag="W/&quot;CEQCR3k_fyp7ImA9WhdSFE4.&quot;"><id>tag:blogger.com,1999:blog-1383639910623827964.post-1742705145904150346</id><published>2011-07-23T21:45:00.000+07:00</published><updated>2011-07-23T21:46:06.747+07:00</updated><app:edited xmlns:app="http://www.w3.org/2007/app">2011-07-23T21:46:06.747+07:00</app:edited><category scheme="http://www.blogger.com/atom/ns#" term="Tìm hiểu Kinh Thánh" /><title>THÁNH KINH HAY KINH THÁNH?</title><content type="html">THÁNH KINH HAY KINH THÁNH?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(TTCG Cập nhật: 04/01/2011 20:07:08)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhiều năm nay, hai thuật từ Thánh Kinh và Kinh Thánh đã gây ra nhiều tranh cải, đôi khi còn có những lời lẽ thô bạo, sỉ vả nhau, thật là điều đáng tiếc! Chúng tôi thử tìm hiểu vấn đề từ góc độ ngữ học chứ không theo tình cảm và cũng không có ý tranh luận với ai.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một trang Thánh Kinh viết trên giấy cói (Papyrus Bodmer VIII)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1. Từ nguyên ngoại ngữ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thuật từ Thánh Kinh trong tiếng Hy Lạp là Ta Biblia. Ta có nghĩa là những (số nhiều), Biblia nghĩa là sách. Biblia có nguồn gốc từ byblos có nghĩa là giấy cói (papyrus), từ tên của thành phố Byblos xứ Phoenicia cổ đại, là nơi xuất khẩu giấy cói. Thánh Kinh Do Thái giáo còn gọi là Tanakh. Tên tiếng Latinh là Scriptura, nghĩa là trước tác, bài viết, bản thảo. Tiếng Anh đầu tiên gọi là Biblelh, về sau thống nhất gọi là The Bible, nghĩa là sách. Tất cả những tên gọi này đều không thể so sánh với thuật từ Thánh Kinh. Ta có thể thấy được hai nền văn minh Đông và Tây khác nhau, và ta có tên gọi trân trọng hơn nhiều: Thánh Kinh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2. Nguồn gốc thuật từ Thánh Kinh&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo tác giả Nguyễn Hải Hoành: “Ngày xưa, khi dịch Cựu Ước toàn thư và Tân Ước toàn thư ra chữ Hán, người Trung Quốc gán cho hai cuốn sách này cái tên ‘Thần thánh điển phạm’ (神聖典範: Mẫu mực thiêng liêng) và ‘Thiên kinh địa nghĩa’ (天經地義: Đạo nghĩa muôn thủa); về sau, khi in gộp Cựu Ước và Tân Ước thành một bộ sách, họ ghép hai chữ thứ hai lại thành ‘Thánh Kinh’” [1].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thật ra đây là cách nói của Tin Lành Trung Hoa, “Thánh Kinh” rút ngắn từ hai câu thành ngữ Trung Hoa: “Thần thánh điển phạm” và “Thiên kinh địa nghĩa”, mà không phân biệt Cựu Ước và Tân Ước [2].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đại Tần Cảnh Giáo lưu hành Trung Quốc bi&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tác giả họ Nguyễn và Tin Lành Trung Hoa đều không nói rõ hai bản dịch Cựu và Tân Ước hay Thánh Kinh nói trên là bản dịch năm nào, và “người Trung Quốc” là ai hay tác phẩm nào đã sử dụng hai thành ngữ trên để gán cho Cựu và Tân Ước? Tuy nhiên, căn cứ vào lời ghi chép trên Đại Tần Cảnh Giáo lưu hành Trung Quốc bi [3] [大秦景教流行中國碑: Bia (chép việc) Cảnh Giáo Syria truyền bá tại Trung Quốc, bia này gồm khoảng 1900 chữ Hán và 50 chữ Syrie, ghi lại lời tuyên xưng đức tin và lịch sử 146 năm Cảnh Giáo tại Trung Quốc] [4], chúng tôi thấy trong phần tuyên xưng đức tin có nhắc đến “24” quyển Cựu Ước (gọi là Cựu Pháp hay Chân Kinh) và 27 quyển Tân Ước (gọi là Kinh 27 Bộ). Như vậy, từ thế kỷ thứ 8, chữ “kinh” đã được dùng để chỉ Thánh Kinh rồi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1803, Cha Louis De Poirot, vị linh mục Dòng Tên đến Trung Quốc từ năm 1770, đã dịch toàn bộ Cựu Ước và một số sách Tân Ước từ bản Phổ Thông (Latin) sang tiếng Hoa, gọi là Cổ Tân Thánh Kinh [5]. Như vậy, thuật từ “Thánh Kinh” đã xuất hiện chậm nhất là từ năm 1803.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm thứ 20 đời vua Quang Tự nhà Thanh (1894), một giáo dân Tin Lành tặng cho bà Từ Hy Thái Hậu một cuốn Tân Ước, gọi là “Quân Vương bản Thánh Kinh”[6], để mừng thọ 60 tuổi của bà. Thuật từ Thánh Kinh đã có từ rất lâu đời.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3. Nghĩa của những chữ thánh, kinh&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3.1. Thánh: Có hai chữ Hán: 聖, 清 [7]: Ở đây là chữ 聖 này. Thánh là gì? Mạnh Tử nói: “Khả dục chi vị thiện, hữu chư kỷ chi vị tín. Sung thật chi vị mỹ, sung thật nhi hữu quang huy chi vị đại, đại nhi hoá chi chi vị thánh”. [8] Nghĩa là: Người mà hành vi nhân phẩm đáng yêu, đáng kính, gọi là thiện. Người làm thiện theo lương tâm và bản tính không cưỡng ép và không giả trá gọi là tín. Người mà lòng thiện đầy đủ phát lộ ra khắp thân thể và mỗi cử động đều hợp ý lành, gọi là mỹ. Người có mỹ đức đầy đủ và làm nên sự nghiệp, khiến cho cái mỹ đức mình tỏa sáng trên đời, gọi là đại. Đã là bực đại nhân, lại đứng ra hoằng hóa cho đời, khiến cho thiên hạ đều quay về nẻo thiện, gọi là thánh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chữ thánh (聖) gồm phần dưới là chữ nhâm (壬), nguyên gốc của chữ nhâm (壬) là chữ nhân (人); phần trên là chữ nhĩ (耳) và chữ khẩu (口); hàm ý: thánh là người thông sáng: thính tai, lợi khẩu. Trong cổ văn, “thánh” và “thính” là cùng một chữ: 聽. Chữ thánh (聖) có những nghĩa này: dt; (1) Đối với người đời thường, chỉ những người đạo đức: thánh nhân; (2) Những người tài giỏi tột bực về một việc nào đó cũng gọi là thánh, như Lý Bạch giỏi uống rượu, người ta gọi ông là tửu thánh; (3) Họ Thánh; đt; (4) Làm cho trở thành thánh; (5) Tinh thông: Đỗ Phủ thánh ư thi (Ông Đỗ Phủ giỏi làm thơ); tt; (6) Thông minh; (7) Tài giỏi; (8) Tôn xưng những gì thuộc về Đức Khổng Tử: Khổng thánh đản; (9) Tôn xưng những gì thuộc về vua: Thánh chỉ; (10) Thuộc về thần thánh: Thánh mẫu, thánh đản; (11) Thuộc về Đấng tối cao [9]; (12) (Nghĩa Nôm): Âm thanh dễ nghe: thánh thót.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3.2. Kinh: Có 7 chữ Hán, ở đây là chữ 經, nghĩa là dt; (1) Ðường dọc, sợi thẳng; (2) Về đường sá thì phía Nam Bắc gọi là kinh 經, phía Đông Tây gọi là vĩ 緯; (3) Về quả đất thì lấy con đường nam bắc cực chính giao với xích đạo gọi là kinh: kinh tuyến (theo hướng nam bắc, vĩ tuyến theo hướng đông tây); (4) Kinh mạch của đông y, sách thuốc chia thành 12 kinh phân phối với các tạng phủ; (5) Thường, đạo đức pháp luật đã định không thể đổi được: Thiên kinh địa nghĩa (天經地義: cái đạo thường như trời đất không thể di dịch được); (6) Sách được coi là tiêu chuẩn tư tưởng, có giá trị đặc biệt mà người ta phải tuân theo: Ngũ kinh; (7) Lời cầu nguyện: Kinh Lạy Cha; (8) Thuật từ chỉ việc phụ nữ mỗi tháng xuất huyết một lần: Kinh nguyệt; (9) Bài văn về việc chuyên môn: Trà kinh, mã kinh; (10) Số đếm cổ xưa, mười tỷ là một kinh; (11) Họ Kinh. đt; (12) Quản lý: Kinh thế tế dân; (13) Hoạch định việc làm: Kinh thương; (14) Trải qua: Kinh lịch; (15) Sửa sang: Kinh dinh (sửa sang, sắp đặt việc lớn) (16) Chia vạch địa giới; (17) Tự thắt cổ chết: Tự kinh. tt; (18) Luôn luôn: Kinh thường; (19) Lâu dài không thay đổi: Bất kinh chi luận (lý luận để lại lâu dài).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lưu ý [10] : “Sách” (là chữ Hán đã Nôm hóa) là tập hợp những tờ giấy có chữ in với nội dung nào đó, đóng gộp lại thành cuốn (hay quyển). “Cuốn” (Nôm) và “quyển” (Hán) đều có nghĩa là: (1) cuộn lại; (2) Sách. Nhưng khi nói: cuốn sách, quyển sách, thì chữ cuốn và quyển trở thành quán từ. “Thư” (Hán) có nghĩa là sách (ví dụ: Tứ Thư), còn “Kinh” (Hán) có nghĩa là sách thánh, sách được coi là tiêu chuẩn tư tưởng (ví dụ: Ngũ Kinh). Như vậy, Kinh đã hàm ý là sách thánh, sách điển phạm... nhưng ghép thêm chữ thánh là có ý nói lên tính trỗi vượt của cuốn Kinh này: Kinh thuộc Đấng tối cao.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4. Thánh Kinh, Kinh Thánh&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4.1. Thánh Kinh: Theo nguyên ngữ thì Thánh Kinh nghĩa là Sách thuộc Đấng tối cao, có giá trị đặc biệt mà người ta phải tuân theo. Theo nghĩa tôn giáo, thì Thánh Kinh là bộ sách được các Hội thánh Kitô Giáo coi là bản văn linh ứng và trung thực, ghi lại những mặc khải qua đó Thiên Chúa tỏ cho nhân loại biết về bản thân Chúa và ý định của Chúa đối với họ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để phân biệt giữa truyền thống Do Thái giáo và Kitô giáo, Thánh Kinh chia làm hai phần: Cựu Ước (Công Giáo có 46 quyển, Tin Lành có 39 quyển) và Tân Ước (27 quyển). Trong Tân Ước, Cựu Ước thường được gọi là “các Sách Thánh: Scripturae” (Mt 21,42). Dần dần từ ngữ này được dùng ở số ít là Sách Thánh: Scriptura. Sách Thánh trở thành đồng nghĩa với Kinh Thánh hay Thánh Kinh (Cv 8,32).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4.2. Kinh Thánh: (1) Đồng nghĩa với Thánh Kinh; (2) Kinh cầu các thánh (Litaniae sanctorum) [11].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;5. Nhận xét&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thánh Kinh là từ Hán Việt (cấu trúc tĩnh từ - danh từ) còn Kinh Thánh là từ Việt gốc Hán (cấu trúc danh từ - tĩnh từ). Người Công giáo Việt Nam đã quen sử dụng cả hai thuật từ này mà không thấy có gì khác biệt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm quyển sách kinh điển của Nho giáo là: Thi Kinh, Thư Kinh, Lễ Kinh, Dịch Kinh và Xuân Thu Kinh nhưng trong tiếng Việt vẫn thường gọi là Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu. Đây cũng là một ví dụ về từ Việt gốc Hán.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong kho tàng ngôn ngữ Việt Nam có những từ Hán Việt - tự ngữ đứng trước định nghĩa cho tự ngữ đi sau - như: tỉnh trưởng, quận trưởng, xã trưởng, bệnh viện, cô nhi viện... Trong nhà đạo cũng có: Thánh Thể, Thánh Truyền, Thánh Thi, Tông Tòa, tu viện, chủng viện, thần học... Ngược lại cũng có những từ Việt gốc Hán - tự ngữ đứng sau định nghĩa cho tự ngữ đi trước - như: Kinh Thi, Kinh Thư, Toà Bạch Ốc, Viện Hoá đạo, Viện Tế bần, Viện Dưỡng lão... Trong nhà đạo cũng có: Chức Thánh, Hội Thánh, Tòa Giám Mục... Có những từ có thể ở cả hai dạng như: Lớp trưởng / trưởng lớp, thẩm mỹ viện / viện thẩm mỹ... Trong nhà đạo cũng có: Thánh Kinh / Kinh Thánh, thánh chức / chức thánh, ảnh tượng / tượng ảnh, linh hồn / hồn linh... Nhưng cũng có rất nhiều từ không thể như vậy được. Chúng ta nói: Hồn linh, linh hồn, hay nói hồn thiêng nhưng không nói thiêng hồn. Nói Kinh Thánh, Thánh Kinh, hay nói Thánh Thư, Thánh Truyền nhưng không nói Thư Thánh, Truyền Thánh. Nói Giám mục, Giám quản, hay nói Linh giám nhưng không nói Giám linh. Nói Tòa Thánh, Tòa Giám, hay nói Tông Tòa nhưng không nói Tòa Tông, nghi lễ hay lễ nghi, nghi thức nhưng không nói thức nghi...! Cũng như Dịch Kinh (易经) và Đạo Đức Kinh (道德經) thì tiếng Việt thường gọi là Kinh Dịch và Đạo Đức Kinh (chứ không gọi là Kinh Đạo Đức!) Vậy đâu là quy luật?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cha Lê Văn Lý, nhà ngữ học Việt Nam trả lời: “Định luật quan trọng của ngôn ngữ là thói quen thông thường. Ngữ pháp có nhiệm vụ trình bày cho trung thành và hệ thống hoá những kiểu nói thông thường, dựa trên những tỉ dụ lấy ở ngôn ngữ được sử dụng hàng ngày, chứ không phải là những câu văn viết, lấy trong sách hay trong thi phú, trừ khi văn viết và thi phú đó tương tự với lời nói thường dùng hằng ngày, chẳng hạn như những câu thơ của Tú Xương sau đây:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mai không tên tớ, tớ đi ngay...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nào có ra gì cái chữ Nho...”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vị giáo sư, tiến sĩ văn chương này kết luận: “Người nào nói ngược lại với thói quen, chẳng hạn như: ‘Ấp trưởng’ thay vì ‘trưởng ấp’, ‘học đại’ thay vì ‘đại học’, ... sẽ không được quần chúng noi theo, nếu như không bị người ta chê cười”. [12]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;6. Kết luận&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Không thể nói “Thánh Kinh” hay “Kinh Thánh” từ nào đúng văn phạm, trang trọng hoặc hay hơn từ nào được. Trái lại, “thói quen thông thường” cho phép sử dụng cả hai từ này để chỉ cùng một đối tượng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có chăng, trên phương diện tu từ, chúng tôi thấy: (1) Dùng “Thánh Kinh” thì thích hợp hơn trong ngữ cảnh song song với các khái niệm bằng tiếng Hán Việt như: Thánh Mẫu học và Thánh Kinh học, Thánh Kinh và Thánh Truyền, việc đọc Thánh Kinh trong Thánh Lễ... (2) Dùng “Kinh Thánh” thì thích hợp hơn trong ngữ cảnh song song với các khái niệm bằng tiếng Việt gốc Hán như: Hội Thánh và Kinh Thánh, chức thánh theo Kinh Thánh, Sách Thánh hay Kinh Thánh... (3) Tên các tác phẩm nói chung thì chỉ cần viết hoa chữ cái đầu tiên mà thôi. Tuy nhiên với các tác phẩm kinh điển, tôn giáo thì để tỏ lòng kính trọng cần phải viết hoa (quy tắc tu từ). Do đó: Viết Thánh Kinh hay Kinh Thánh thì tốt hơn là viết Thánh kinh hay Kinh thánh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;-------------------------------&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;[1] http://phienbancu.vanvn.net/News.asp?cat=&amp;scat=13&amp;id=917.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;[2] http://hi.baidu.com/nsfk/blog/item/45c7ebdd064274ed77c6382d.html.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;[3] Bia này do một vị giám mục phái Nestoriô tạc vào năm 781, được tìm thấy năm 1626, hiện đang lưu giữ tại Tây An (Trung Quốc), một bảo sao của nó lưu tại Viện Bảo Tàng Lateranô (Vatican). http://www.blessingu.com/tc/pedia/ChineseBible_2/&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;[4] Giáo phái Nestoriô (Cảnh Giáo) thịnh hành tại Trung Quốc hơn 200 năm (635-845). Năm thứ 9 đời vua Trinh Quan nhà Đường (635), Giám mục Alopen phái Nestoriô từ Syria theo con đường lụa đến truyền giáo tại Trường An, kinh đô bấy giờ của nhà Đường (nay gọi là Tây An). Đến năm thứ 5 đời vua Vũ Tông (845), nhà Đường tiêu diệt Kitô Giáo và trong 400 năm sau đó Kitô Giáo tại Trung Quốc gần như không còn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;[5] Cuốn Thánh Kinh này chưa được xuất bản, bản thảo này để ở thư viện của nhà thờ Bắc Đường tức Nhà thờ Chính toà Bắc Kinh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;[6] “君王版”聖經http://blog.sina.com.cn/s/blog_4e4a788a01000bz4.html.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;[7] Xem “Bài Giảng Chúa Nhật” của Tổng Giáo phận TP.HCM, số 05/2006.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;[8] 可欲之謂善，有諸己之謂信。充實之謂美，充實而有光輝之謂大，大而化之之謂聖。(Mạnh Tử, Tận Tâm chương cú hạ, tiết 24).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;[9] Không nên chỉ giải nghĩa thuộc về Thiên Chúa, làm như vậy thì thu hẹp ý nghĩa của chữ. Vì Tin Lành, Chính Thống và Hồi Giáo không bao giờ gọi Đấng Tối Cao là Thiên Chúa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;[10] xem Đại Từ Điển Tiếng Việt và Đại Nam Quấc Âm Tự Vị.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;[11] xem Aj. L. Taberd, Dictionarium Anamitico-Latinum , 1838; Hiùnh Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quấc Âm Tự Vị, 1896. Khi nói “Kinh thánh” là Kinh cầu các thánh, thì chữ kinh lấy nghĩa là lời cầu nguyện. Ngày nay không thấy có ai dùng chữ Kinh thánh theo nghĩa này nữa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;[12] Lm. Lê Văn Lý, Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam, Bộ Giáo dục, Sài Gòn, 1972, tr. 3.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;_______________________________________________________&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;SÁCH THAM KHẢO&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1) Lm. Eugène Gouin, MEP, DICTIONNAIRE VIETNAMIEN CHINOIS FRANÇAIS, D’Extrême Orient, Sài Gòn, 1957.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2) VIỆT HÁN TỪ ĐIỂN TỐI TÂN, Nhà sách Tân Hoa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3) Nguyễn Đình Diễn, TỪ ĐIỂN CÔNG GIÁO ANH VIỆT, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội, 2002.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4) Viện Ngôn Ngữ Học, TỪ ĐIỂN HÁN VIỆT, 2001.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;5) Châu Hà, QUỐC NGỮ HOẠT DỤNG TỪ ĐIỂN, Đài Loan, 2004.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;6) CHRISTIAN THEOLOGICAL LEXICON, Đài Loan, 2005.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;7) CATHOLIC ENGLISH-CHINESE DICTIONARY, Đài Loan, 2001&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;8) Thiều Chữu: http://nguyendu.com.free.fr/langues/hanviet.htm&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;9) VIETNAMESE - ENGLISH - FRENCH - CHINESE DICTIONARY: http://vdict.com.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;10) Lm Lê Văn Lý, SƠ THẢO NGỮ PHÁP VIỆT NAM, Bộ Giáo Dục, Sài Gòn, 1972.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lm. Stêphanô Huỳnh Trụ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/MucVu/25ThanhKinh-KinhThanh.htm&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/1383639910623827964-1742705145904150346?l=trungfq.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel="replies" type="application/atom+xml" href="http://trungfq.blogspot.com/feeds/1742705145904150346/comments/default" title="Đăng Nhận xét" /><link rel="replies" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2011/07/thanh-kinh-hay-kinh-thanh.html#comment-form" title="0 Nhận xét" /><link rel="edit" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/1742705145904150346?v=2" /><link rel="self" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/1742705145904150346?v=2" /><link rel="alternate" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2011/07/thanh-kinh-hay-kinh-thanh.html" title="THÁNH KINH HAY KINH THÁNH?" /><author><name>Phạm Quang Trung</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14901332933612324160</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel="http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail" width="32" height="24" src="http://3.bp.blogspot.com/---EG_fDe9VI/TvB1ij_Gm0I/AAAAAAAAALg/BW3RCHyMMrg/s220/TRUNG.jpg" /></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry gd:etag="W/&quot;CEYFRXo9fyp7ImA9WhdSFE4.&quot;"><id>tag:blogger.com,1999:blog-1383639910623827964.post-1676820774420600995</id><published>2011-07-23T21:40:00.001+07:00</published><updated>2011-07-23T21:41:54.467+07:00</updated><app:edited xmlns:app="http://www.w3.org/2007/app">2011-07-23T21:41:54.467+07:00</app:edited><category scheme="http://www.blogger.com/atom/ns#" term="Thơ ca" /><title>Đêm xuân cầu nguyện - Hàn Mặc Tử</title><content type="html">Tặng cả và thiên hạ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trời hôm nay bình an như nguyệt bạch,&lt;br /&gt;Đường trăng xa, ánh sáng tuyệt vời bay...&lt;br /&gt;Đây là hương quí trọng thấm trong mây&lt;br /&gt;Ngời phép lạ của đức tin kiều diễm :&lt;br /&gt;Câu tán tạ, không khen long cả phiếm :&lt;br /&gt;Bút Xuân thu mùa nhạc đến vừa khi&lt;br /&gt;Khắp mười phương điềm lạ trổ hoài nghi :&lt;br /&gt;Cây bằng gấm và lòng sông toàn ngọc !&lt;br /&gt;Và đầu hôm một vì sao liền mọc&lt;br /&gt;Ơ? phương Nam mầu nhiệm biết ngần mô !&lt;br /&gt;Vì muôn kinh dồn dập cõi thơm tho,&lt;br /&gt;Thêm nghĩa lý sáng trưng như thất bảo.&lt;br /&gt;Ta chấp hai tay lạy quỳ hoan hảo.&lt;br /&gt;Ngửa trông cao, cầu nguyện trắng không gian,&lt;br /&gt;Để vừa dâng, vừa hiệp bốn mùa xuân&lt;br /&gt;Nở một lượt giàu sang hơn Thượng Đế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đã no nê, đã bưa rồi, thế hệ&lt;br /&gt;Của phường trai mê mẩn khí thanh cao.&lt;br /&gt;Phượng Hoàng bay trong một tối trăng sao&lt;br /&gt;Mà ánh sáng không còn khiêm nhượng nữa;&lt;br /&gt;Đương cầu xin, ọc thơ ra dường sữa,&lt;br /&gt;Ta ngất đi trong khoái lạc của hồn đau...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trên chín tầng diêu rộng cả trân châu&lt;br /&gt;Dường sống lại muôn ngàn hoa phẩm tiết&lt;br /&gt;Nhịp song đôi : này đây, cung cầm nguyệt&lt;br /&gt;Ướp lời thơ thành phước lộc của đường tu,&lt;br /&gt;Tôi van lơn, thầm nguyện Chúa Giê Su&lt;br /&gt;Ban ơn xuống cho mùa xuân hôn phối,&lt;br /&gt;Xin tha thứ những câu thơ tội lỗi&lt;br /&gt;Của bàn tay thi sĩ kẻ lên trăng :&lt;br /&gt;Trong bao đêm xao xuyến vũng sông Hằng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;http://www.vanhoctre.com/f/showthread.php?t=2628&amp;page=12&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/1383639910623827964-1676820774420600995?l=trungfq.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel="replies" type="application/atom+xml" href="http://trungfq.blogspot.com/feeds/1676820774420600995/comments/default" title="Đăng Nhận xét" /><link rel="replies" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2011/07/em-xuan-cau-nguyen-han-mac-tu.html#comment-form" title="0 Nhận xét" /><link rel="edit" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/1676820774420600995?v=2" /><link rel="self" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/1676820774420600995?v=2" /><link rel="alternate" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2011/07/em-xuan-cau-nguyen-han-mac-tu.html" title="Đêm xuân cầu nguyện - Hàn Mặc Tử" /><author><name>Phạm Quang Trung</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14901332933612324160</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel="http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail" width="32" height="24" src="http://3.bp.blogspot.com/---EG_fDe9VI/TvB1ij_Gm0I/AAAAAAAAALg/BW3RCHyMMrg/s220/TRUNG.jpg" /></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry gd:etag="W/&quot;C0AGQXgyeyp7ImA9WhdSFE4.&quot;"><id>tag:blogger.com,1999:blog-1383639910623827964.post-6835605971334506339</id><published>2011-07-23T21:30:00.000+07:00</published><updated>2011-07-23T21:35:20.693+07:00</updated><app:edited xmlns:app="http://www.w3.org/2007/app">2011-07-23T21:35:20.693+07:00</app:edited><category scheme="http://www.blogger.com/atom/ns#" term="Thơ ca" /><title>Nhạc sầu - Huy Cận</title><content type="html">Nhạc sầu&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ai chết đó ? Nhạc buồn chi lắm thế !&lt;br /&gt;Chiều mồ côi, đời rét mướt ngoài đường&lt;br /&gt;Phố đìu hiu màu khói cũ lên sương&lt;br /&gt;Sương hay chính bụi tàn phai lả tả&lt;br /&gt;Từng tiếng lệ: ấy mộng sầu úa lá&lt;br /&gt;Chim vui đâu cây đã gãy vài cành&lt;br /&gt;Ôi chiều buồn ! Sao nắng quá mong manh&lt;br /&gt;Môi tái nhạt nào mà cười héo vậy ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ai chết đó? trục xoay và bánh đẩy&lt;br /&gt;Xe tang đi về tận thế giới nào ?&lt;br /&gt;Chiều đông tàn, lạnh xuống tự trời cao&lt;br /&gt;Không lửa ấm, chắc hồn buồn lắm đó&lt;br /&gt;Thê lưng vậy mà ai đành lìa bỏ&lt;br /&gt;Trần gian sao? Đây thành phố đang quen&lt;br /&gt;Nhưng chốc rồi nẻo vắng đã xa miền&lt;br /&gt;Đường sá lạ thôi lạnh lùng biết mấy !&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Và ngựa ơi, đi nhịp đằm chớ nhảy&lt;br /&gt;Kẻo thân đau chưa quên nệm giường đời&lt;br /&gt;Ai đi đưa, xin đưa tận cuối trời&lt;br /&gt;Chớ quay lại nửa đường mà làm tủi&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người đã chết- Một vài ba đầu cúi&lt;br /&gt;Dăm bảy lòng thương xót đến bên mồ&lt;br /&gt;Để cho hồn khi sắp xuống hư vô&lt;br /&gt;Còn được thấy trên mặt người ấm áp&lt;br /&gt;Hình dáng cuộc đời từ nay xa tắp&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xe tang đi, xin đường chớ gập ghềnh&lt;br /&gt;Không gian ơi, xin hẹp bớt mông mêng&lt;br /&gt;Ảo não quá trời buổi chiều vĩnh biệt !&lt;br /&gt;VÀ ngươi nữa, tiếng gió buồn thê thiết&lt;br /&gt;Xin lặng giùm cho nhẹ bớt cô đơn&lt;br /&gt;Hàng cờ đen là bóng quạ chập chờn&lt;br /&gt;Báo tin xấu, dẫu hồn người đã xế...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ai chết đó? nhạc buồn chi lắm thế !&lt;br /&gt;Kèn đám ma hay ấy tiếng đau thương&lt;br /&gt;Của cuộc đời ?ai rút tự trong xương&lt;br /&gt;Tiếng nức nở gởi gió đường quạnh quẽ !&lt;br /&gt;Sầu chi lắm! trời ơi chiều tận thế !&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/1383639910623827964-6835605971334506339?l=trungfq.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel="replies" type="application/atom+xml" href="http://trungfq.blogspot.com/feeds/6835605971334506339/comments/default" title="Đăng Nhận xét" /><link rel="replies" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2011/07/nhac-sau-huy-can.html#comment-form" title="0 Nhận xét" /><link rel="edit" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/6835605971334506339?v=2" /><link rel="self" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/6835605971334506339?v=2" /><link rel="alternate" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2011/07/nhac-sau-huy-can.html" title="Nhạc sầu - Huy Cận" /><author><name>Phạm Quang Trung</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14901332933612324160</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel="http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail" width="32" height="24" src="http://3.bp.blogspot.com/---EG_fDe9VI/TvB1ij_Gm0I/AAAAAAAAALg/BW3RCHyMMrg/s220/TRUNG.jpg" /></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry gd:etag="W/&quot;C0MASHs7cCp7ImA9WhdSFE4.&quot;"><id>tag:blogger.com,1999:blog-1383639910623827964.post-5314229071117986991</id><published>2011-07-23T21:29:00.000+07:00</published><updated>2011-07-23T21:30:49.508+07:00</updated><app:edited xmlns:app="http://www.w3.org/2007/app">2011-07-23T21:30:49.508+07:00</app:edited><category scheme="http://www.blogger.com/atom/ns#" term="Thơ ca" /><title>Bài thơ: Trình bày - Huy Cận</title><content type="html">Tôi sẽ đến trước mặt người, Thượng đế&lt;br /&gt;Để kêu than, khi tôi đã lìa đời&lt;br /&gt;Khi lá rụng, và hồn tôi đã xế&lt;br /&gt;Sang bên kia thế giới của loài người&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước Thượng đế hiền từ tôi sẽ đặt&lt;br /&gt;Trái tim đau khô héo thủa trần gian&lt;br /&gt;Tôi sẽ nói: "Này đây là nước mắt&lt;br /&gt;Ngọc đau buồn, nguyên khối vẫn chưa tan&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người biết đấy, lòng tôi trong trắng lắm&lt;br /&gt;Người cho sao, tôi giữ vậy như gương&lt;br /&gt;Mặt trời đẹp, sắc đời đua nở thắm&lt;br /&gt;Tôi đã đành mang nặng nghiệp yêu thương&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từng bước lạnh teo, một mình lủi thủi&lt;br /&gt;Tin ngây thơ: hồn sẽ hiểu qua hồn,&lt;br /&gt;Tôi đâu biết thịt sương là sông núi&lt;br /&gt;Chia biệt người ra từng xứ cô đơn&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cả linh hồn tôi đem cho trọn vẹn&lt;br /&gt;Vốn nhà nghèo không quen thói bán buôn,&lt;br /&gt;Đến những kẻ mới vờ duyên hứa hẹn&lt;br /&gt;Tôi cũng cho trọn vẹn cả linh hồn&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đầu gối rã, tôi đứng chờ đã mệt&lt;br /&gt;Tôi trông mong hai mắt tối đen rồi&lt;br /&gt;Tôi đã khóc những đêm sầu đến chết&lt;br /&gt;Thủa trần gian, xin thượng đế thương tôi&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuổi non dại lòng tôi say mến bạn&lt;br /&gt;Khi thanh xuân, tôi mỏi chạy theo tình&lt;br /&gt;Nhưng cô độc đã thầm ghi trên trán&lt;br /&gt;Lòng lạc loài ngay từ thủa sơ sinh&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lòng tôi đây, trọn một đời thương nhớ&lt;br /&gt;Hồn tôi đây, thiên hạ bỏ đìu hiu&lt;br /&gt;Người nhìn xem, chân tôi muôn dấu rỗ&lt;br /&gt;Thủng gai đời, đây tay với tình yêu&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỡi Thượng đế! Tôi cúi đầu trả lại&lt;br /&gt;Linh hồn tôi đà một kiếp đi hoang&lt;br /&gt;Sầu đã chín, xin người thôi hãy hái&lt;br /&gt;Nhận tôi đi, dầu địa ngục, thiên đường"&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rồi tôi khóc, và đầu tôi ngã gục&lt;br /&gt;Mắt tôi mờ, và tay của tôi xuôi&lt;br /&gt;Không biết nữa, thiên đường hay địa ngục,&lt;br /&gt;-Quên, quên, quên đã mang trái tim người! &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;http://poem.tkaraoke.com/14743/Trinh_Bay.html&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/1383639910623827964-5314229071117986991?l=trungfq.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel="replies" type="application/atom+xml" href="http://trungfq.blogspot.com/feeds/5314229071117986991/comments/default" title="Đăng Nhận xét" /><link rel="replies" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2011/07/bai-tho-trinh-bay-huy-can.html#comment-form" title="0 Nhận xét" /><link rel="edit" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/5314229071117986991?v=2" /><link rel="self" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/5314229071117986991?v=2" /><link rel="alternate" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2011/07/bai-tho-trinh-bay-huy-can.html" title="Bài thơ: Trình bày - Huy Cận" /><author><name>Phạm Quang Trung</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14901332933612324160</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel="http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail" width="32" height="24" src="http://3.bp.blogspot.com/---EG_fDe9VI/TvB1ij_Gm0I/AAAAAAAAALg/BW3RCHyMMrg/s220/TRUNG.jpg" /></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry gd:etag="W/&quot;C0cNQX8_eyp7ImA9WhdSFE4.&quot;"><id>tag:blogger.com,1999:blog-1383639910623827964.post-2482236400789951847</id><published>2011-07-23T21:21:00.002+07:00</published><updated>2011-07-23T21:24:50.143+07:00</updated><app:edited xmlns:app="http://www.w3.org/2007/app">2011-07-23T21:24:50.143+07:00</app:edited><category scheme="http://www.blogger.com/atom/ns#" term="Giới thiệu sách" /><title>Tiểu thuyết đoạt giải Nobel nổi tiếng Barabas</title><content type="html">I.Giới thiệu&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Barabbas (1950) là một tiểu thuyết của văn hào Pär Lagerkvist, người đoạt Giải Nobel Văn chương năm 1951. Tác phẩm thuật lại câu chuyện về cuộc đời của Barabbas, người mà Thánh Kinh cho biết đã được tha thay vì Chúa Giê-xu. Barabbas đã dùng suốt cuộc đời còn lại của mình để tìm hiểu lý do vì sao mình được chọn để sống.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chúa Giê-xu bị đóng đinh trên đồi Golgotha. Bên lề đám đông, Barabbas đứng đó. Vốn là một người bạo lực, sống ngoài vòng luật pháp và nổi loạn, Barabbas không thể nào có chút kính trọng với một người không biết phản kháng, dầu người đó đã chết thay chỗ của mình. Barabbas cũng hoài nghi về thần tánh của Chúa Giê-xu. Dầu vậy, ông cũng bị lôi cuốn về sự hy sinh của Chúa. Ông tìm gặp nhiều môn đệ khác nhau của Chúa để tìm hiểu. Tuy nhiên, những quan điểm tôn cao Chúa của họ không phù hợp với sự quan sát cụ thể của ông về Chúa. Quan trọng hơn nữa, vì Barabbas chưa bao giờ kinh nghiệm được tình yêu - vốn là nền tảng của niềm tin Cơ-đốc - nên Barabbas thấy rằng ông không thể nào hiểu được tình yêu, và do đó không thể nào hiểu được đức tin Cơ-đốc. Barabbas nói rằng ông "muốn tin," nhưng đối với Barabbas, hiểu biết là điều kiện tiên quyết để tin, do đó ông không thể tin.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau nhiều thử thách gian truân, cuối cùng Barabbas đến Rome, nơi ông hiểu lầm cuộc hỏa hoạn tại Rome là khởi đầu của Thiên Đàng mới, do đó ông hăng hái giúp đám cháy lan rộng. Kết quả, ông bị bắt và bị đóng đinh cùng với những Cơ-đốc nhân khác như là những người tử đạo về một đức tin mà ông vẫn chưa hiểu.&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt;Chủ đề&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Suốt cuộc đời của Pär Lagerkvist, ông bị dằn vặt với sự thiếu niềm tin. Trong tiểu thuyết, Barabbas cũng vậy, là một người không thể nào hiểu Chúa Giê-xu và không biết yêu Ngài như thế nào. Tiểu thuyết trình bày nhiều Cơ-đốc nhân với những quan niệm sai lầm về đức tin như những ví dụ tiêu cực, nhằm trình bày sứ điệp làm thế nào để yêu Chúa Giê-xu.&lt;br /&gt; &lt;span style="font-weight:bold;"&gt;Giải thưởng và những đề cử&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;Tác giả được trao giải Nobel Văn Chương năm 1951.&lt;br /&gt;&lt;span style="font-weight:bold;"&gt; Kịch bản cho phim và sân khấu&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    Tiễu thuyết được Dino De Laurentiis chuyển thành phim Barabbas vào năm 1961. Phim do Anthony Quinn đóng vai chính.&lt;br /&gt;    Tác phẩm cũng được chuyển thành kịch để diễn trên sân khấu vào năm 1953.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;span style="font-weight:bold;"&gt;Ấn bản Việt ngữ&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    Tiễu thuyết được Hướng Dương dịch sang tiếng Việt năm 1969 và được nhà xuất bản Tin Lành Sài Gòn đăng làm nhiều kỳ trên Thánh Kinh Báo bắt đầu từ số 367, tháng 8 năm 1969. [1]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-style:italic;"&gt; Chú thích&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    ^ Nhà Xuất bản Tin Lành, Thánh Kinh Báo, Số 367, Tháng 8, 1969&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;http://vi.wikipedia.org/wiki/Barabbas_%28ti%E1%BB%83u_thuy%E1%BA%BFt%29&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/1383639910623827964-2482236400789951847?l=trungfq.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel="replies" type="application/atom+xml" href="http://trungfq.blogspot.com/feeds/2482236400789951847/comments/default" title="Đăng Nhận xét" /><link rel="replies" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2011/07/tieu-thuyet-oat-giai-nobel-noi-tieng_23.html#comment-form" title="0 Nhận xét" /><link rel="edit" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/2482236400789951847?v=2" /><link rel="self" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/2482236400789951847?v=2" /><link rel="alternate" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2011/07/tieu-thuyet-oat-giai-nobel-noi-tieng_23.html" title="Tiểu thuyết đoạt giải Nobel nổi tiếng Barabas" /><author><name>Phạm Quang Trung</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14901332933612324160</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel="http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail" width="32" height="24" src="http://3.bp.blogspot.com/---EG_fDe9VI/TvB1ij_Gm0I/AAAAAAAAALg/BW3RCHyMMrg/s220/TRUNG.jpg" /></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry gd:etag="W/&quot;CkADQHY8cCp7ImA9WhdSFE4.&quot;"><id>tag:blogger.com,1999:blog-1383639910623827964.post-7135898591491632938</id><published>2011-07-23T21:13:00.002+07:00</published><updated>2011-07-23T21:19:31.878+07:00</updated><app:edited xmlns:app="http://www.w3.org/2007/app">2011-07-23T21:19:31.878+07:00</app:edited><category scheme="http://www.blogger.com/atom/ns#" term="Giới thiệu sách" /><title>Tiểu thuyết đoạt giải Nobel nổi tiếng Quo vadis?</title><content type="html">Henryk Sienkievich (Henryk Sienkieweiz) là một trong những văn hào lớn nhất của nhân dân Balan. Sáng tác của ông có một vị trí đặc biệt trong lịch sử văn hóa Ba Lan, đồng thời được đánh giá rất cao trên văn đàn thế giới. Với tiểu thuyết Quo vadis ông được tặng giải Nôben về văn học năm 1905.&lt;br /&gt;H. Sienkievich sinh ngày 5-5-1816 tại Vola Okseiska miền Podleise trong một gia đình quý tộc đã bị sa sút. Vào những năm 1866-1869 ông theo học các khoa luật học, y học rồi văn học tại Trường Chính (nay là trường đại học tổng hợp Vacxava).&lt;br /&gt;Bước vào nghề làm báo từ năm 1860 bằng những tiểu luận và phê bình sân khấu, Sienkievich bắt đầu được chú ý đến như một cây bút có triển vọng với truyện Phi hoài (1872). Trong những truyện ngắn tiếp theo, ông đã miêu tả một cách sắc nét tâm tư của lối sống phong kiến gia trưởng (Người đầy tớ già -1875, Hania -1876). Thời kỳ 1876 -1882 ông đi rất nhiều nơi ở châu Âu, châu Mỹ, và cho đăng Những bức thư từ các chuyến đi (1876 -1878) cùng hàng loạt truyện ngắn và truyện vừa rất xuất sắc, trong đó nổi bật lên vấn đề thân phận người nông dân.&lt;br /&gt;Năm 1892 đánh dấu một bước ngoặt trong sáng tác của H. Sienkievich; từ lĩnh vực truyện ngắn và truyện vừa, ông bước sang miền đất mới của các tiểu thuyết lịch sử. Ông cho ra đời bộ ba tiểu thuyết lịch sử viết về những cuộc chiến tranh diễn ra ở Ba Lan hồi thế kỷ XVII: Bằng lửa và gươm (1883 -1894), Trận hồng thủy (1884-1886), Ngài Volodyjovxki (1887 -1888). Mang đậm chủ nghĩa yêu nước, tiểu thuyết bộ ba này là một đỉnh cao chói lọi trong sự nghiệp sáng tác của Sienkievich, là một tác phẩm trong kho tàng văn học Ba Lan.&lt;br /&gt;Tiếp theo, Sienkievich hoàn thành hai tiểu thuyết tâm lý xã hội Phi giáo lý (1889 -1890) và Gia đình Polanjexki, trong đó ông phê phán giới quý tộc đang suy đồi.&lt;br /&gt;Đề tài tiểu thuyết lịch sử Quo vadis (1895 -1896) là cuộc khủng bố các tín đồ Thiên chúa giáo thời Nerô bạo chúa ở Cổ La Mã.&lt;br /&gt;Tiểu thuyết lịch sử Hiệp sĩ Thánh chiến (1897 - 1900) miêu tả cuộc chiến tranh giữ nước hồi thế kỷ XV với các trận đại thắng Grunvald lẫy lững, chống lại các hiệp sĩ thuộc dòng tu Thánh chiến, mà thực chất là chống lại đế quốc Phổ, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Ba Lan.&lt;br /&gt;Trong thời kỳ “hồi xuân” gần cuối đời, sau khoảng 10 năm bệnh tật liên miên. H. Sienkievich đã cho ra đời cuốn tiểu thuyết du ký rất xuất sắc dành cho bạn đọc trẻ tuổi Trên sa mạc, trong rừng thẳm (1910 - 1913) và tiểu thuyết lịch sử Những đội quân lê dương (1913 - 1914) mà cái chết không cho phép ông hoàn thành.&lt;br /&gt;Henryk Sienkievich mất tại Vêvê (Thụy Sĩ) ngày 15 - 11 - 1916 thọ bảy mươi tuổi.&lt;br /&gt;Trong ngót nửa thế kỷ sáng tạo. H. Sienkievich đã để lại cho nhân loại một di sản văn học đồ sộ và vô giá. Ngay từ thủa sinh thời của văn hào đã từng có nhiều người cố gắng thu thập và xuất bản toàn bộ những tác phẩm của ông. Đáng chú ý nhất là công trình của nhà xuất bản Gebethner và Wolf, trong những năm 1880 - 1939 đã xuất bản bốn mươi sáu tập tác phẩm chọn lọc của Sienkievich. Trong chiến tranh thế giới thứ hai, bè lũ Hítle ra lệnh cấm lưu hành những tác phẩm sục sôi lòng yêu nước của Sienkievich, chúng ra sức tịch thu và đốt các tác phẩm của ông, song nhân dân Ba Lan vẫn nâng niu, gìn giữ, truyền tay nhau đọc, dù rằng không ít người vì thế đã bị kết án tử hình hoặc bị đưa vào trại tập trung.&lt;br /&gt;Chỉ dưới chính thể Cộng hòa nhân dân Ba Lan. Sienkievich mới thật sự trở thành nhà văn của dân tộc, của quảng đại quần chúng, tác phẩm của ông mới được đánh giá đúng tầm cỡ. Ngay trong mùa xuân năm 1945 còn vương khói đạn, ngay trong cảnh đất nước bị tàn phá đến mức hủy diệt, trong những điều kiện cực kỳ khó khăn thiếu thốn sau chiến tranh, tiểu thuyết Hiệp sĩ Thánh chiến của Sienkievich vẫn được tái bản và đó là tác phẩm văn học cổ điển đầu tiên được xuất bản trong lòng nước Ba Lan mới.&lt;br /&gt;Chỉ vài năm sau chiến tranh. Đảng và Chính phủ Ba Lan đã quyết định cho xuất bản toàn bộ tác phẩm của văn hào. Dựa trên các bản thảo và những bản in lần đầu may mắn được cứu thoát khỏi sự đốt phá của bè lũ phát xít, lần đầu tiên toàn bộ tác phẩm H. Sienkievich gồm sáu mươi tập được chỉnh lý và xuất bản trong khoảng thời gian 1949 - 1951 dưới sự chủ trì của giáo sư Julian Ksyzanovxki. Bốn tập cuối cùng của bộ sách này là công trình nghiên cứu khoa học tổng hợp về cuộc đời và sáng tác của nhà văn. Căn cứ theo bộ sách này, hàng loạt tác phẩm riêng lẻ của nhà văn lần lượt được tái bản có hệ thống với nhịp độ nhanh và số lượng bản in rất lớn. Thống kê độc giả tại Ba Lan, qua nhiều năm cho thấy rằng sách của H. Sienkievich được nhiều người đọc nhất và được yêu chuộng nhất.&lt;br /&gt;***&lt;br /&gt;Tác phẩm nổi tiếng Quo vadis(1) được viết trong thời kỳ sung sức nhất của H. Sienkievich. Ý đồ sáng tác xuất hiện vào mùa xuân năm 1893, khi nhà văn tới thăm Roma lần thứ hai. Như nhà văn đã viết trong bức thư gửi nhà khảo cổ học kiêm nhà phê bình học người Pháp Boyer D”Agen vào năm 1912: “Ý định sáng tác Quo vadis nảy sinh trong tôi khi tôi đọc các tập Niên ký của Taxits, một trong những nhà văn tôi yêu thích nhất và trong chuyến lưu trú dài ngày tại Roma. Họa sĩ nổi tiếng Siemiradzki đang sống tại Roma hồi ấy là người hướng dẫn tôi đi thăm quan cái thành đô vĩnh hằng này, và ở một trong những cuộc dạo chơi như thế, anh ấy đã chỉ cho tôi ngôi nhà thờ nhỏ mang tên “Quo vadis”(2). Chính lúc ấy, tôi đã nảy sinh ra ý định viết một tiểu thuyết về thời kỳ lịch sử đó. Trong suốt hai năm 1893 -1894, tác giả đã tiến hành những công cuộc chuẩn bị khảo cứu rất công phu để xây dựng nền móng cho tác phẩm, đồng thời đã vài lần thử nghiệm chủ đề này trong một số phác thảo khác nhau. Quo vadis được chính thức bắt đầu viết từ mùa xuân năm 1895 tại Vacsava và được hoàn thành ngày 18 - 2 - 1986 tại Nixe. Vừa viết Sienkievich vừa cho đăng tải Quo vadis trên tờ “Báo Ba Lan” ở Vacsava và hai tờ báo khác tại Pôzơ nan và Cracốp. Vài tháng sau, tác phẩm được nhà xuất bản Gebethner và Wolf in thành sách (3 tập).&lt;br /&gt;Thời trị vì của Nerô bạo chúa và việc khủng bố các tín đồ Thiên chúa giáo hồi ấy đã từng là đề tài của nhiều tác phẩm của các nhà văn trước Sienkievich, song Quo vadis vượt xa các tác phẩm ấy về giá trị tư tưởng và nghệ thuật. Quo vadis là bức tranh toàn cảnh xã hội La Mã vào năm 61 sau công nguyên, với những mâu thuẫn chính trị xã hội và tôn giáo đã căng thẳng tới tột đỉnh chỉ chực bùng nổ.&lt;br /&gt;Mặc dù lần xuất bản đầu tiên, Quo vadis có mang thêm phụ đề nhỏ “Tiểu thuyết về thời Nerô” nhưng thực ra Sienkievich không có ý định dựng một tiểu thuyết lịch sử theo nghĩa đầy đủ của từ này. Tác giả chỉ giới hạn trong việc vẽ nên một bức tranh chi tiết và vô cùng sinh động của xã hội La Mã tại thành đô Roma. Trong vô vàn các sự kiện lịch sử của thời kỳ đó, tác giả chỉ tập trung chủ yếu vào hai vấn đề: Vụ đốt cháy thành Roma và cuộc khủng bố các tín đồ Thiên chúa giáo, các sự kiện khác chỉ được nêu ngắn gọn hoặc nói lướt qua làm nền. Chính sự thu gọn chủ đề và bình diện các sự kiện lịch sử ấy đã cho phép tác giả làm nổi bật lên sự đối đầu giữa hai thế giới: Một bên là thế giới cung đình bạo chúa đa thần giáo của triều thần La Mã vây quanh Nerô tên bạo chúa đang ở đỉnh cao nhất của quyền lực, xa hoa và tội ác, nhưng đã thối nát cực độ và đang suy vong. Còn một bên là thế giới nô lệ và dân nghèo theo đạo Thiên chúa tập trung chung quanh hai vị sứ đồ Piotr và Paven, cái thế giới hồi ấy không chút quyền lực, nhỏ nhoi và yếu ớt nhưng đầy hấp dẫn bởi tư tưởng mới và không cam chịu khuất phục bạo lực, đang lớn dần lên, chiếm lĩnh vũ đài xã hội - chính trị. Tượng trưng cho điểm đỉnh của sự đối đầu này là cuộc đọ nhãn quang tình cờ giữa Nerô và sứ đồ Piotr khi hoàng đế cùng đám quần thần rời bỏ Roma, cái thành phố đã bị Nerô thầm kết án tử hình “Trong một chớp mắt, hai con người ấy nhìn nhau (… ) đó là giây phút đọ nhãn quang của hai vị chúa tể trái đất, một kẻ ngay sau đó biến đi như một giấc mơ đẫm máu, còn người kia - chính cụ già khoác manh áo thô kệch nọ - sẽ chiếm lĩnh đến muôn đời sau cả thế gian lẫn thành đô này” (Chương XXXVI).&lt;br /&gt;Cuộc đối đầu thầm lặng không trận tuyến đó, theo từng trang sách cứ lớn mãi, mở rộng mãi ra, dâng cao mãi lên, cuốn hút toàn xã hội vào vòng xoáy lịch sử mãnh liệt của nó, cả những người ý thức được lẫn những kẻ không nhận thức được nó, những người tham gia thúc đẩy nó lẫn những kẻ cố tình tránh xa. Cuộc đối đầu đó được tác giả đan quyện một cách tài tình với câu chuyện tình đầy éo le ngang trái giữa chàng quý tộc trẻ tuổi Vinixius, một võ quan cao cấp, một cận thần của Nerô, với nàng Ligia, công chúa của bộ tộc Ligi (tiền thân của dân tộc Ba Lan) bị La Mã giữ làm con tin và là một tín đồ Thiên chúa. Tình yêu ấy tiến triển trong sự phát triển của những mâu thuẫn xã hội. Số phận đôi trẻ gắn liên với những biến động ghê gớm của xã hội. Chính sự đan quyện và nghệ thuật dẫn truyện đó khiến cho tác phẩm mang nhiều màu sắc vô cùng hấp dẫn.&lt;br /&gt;Dưới ngòi bút tinh tế và khoáng đạt của H. Sienkievich từng nhân vật hiện lên sắc nét với cả chiều sâu tâm lý, tính cách, với tất cả những mâu thuẫn nội tâm phức tạp, những mối quan hệ xã hội chằng chịt, những đột biến đến độ nghịch lý mà hoàn toàn hợp lý, nẩy sinh trong quá trình vận động phát triển.&lt;br /&gt;Nêrô bạo chúa - nghệ sĩ toàn năng, ba mươi tuổi, xuất hiện trên những trang sách của Quo vadis trong cái năm 64 đầy biến động, dẫu đã mang nặng trong thâm tâm những bóng ma đẫm máu của mẹ, của vợ, của bao nhiêu người khác bị y giết hại, dẫu sống trong lo sợ triền miên và quyền lực, nhưng vẫn là một nghệ sĩ đang trăn trở với những day dứt của quá trình lao động nghệ thuật. Với ảo vọng viết thiên trường ca về sự triệt phá thành Tơroa, bản trường ca sẽ làm lu mờ hình ảnh vinh quang của Iliat và Ôđyxê của Homer, hắn nhất thiết phải được nhìn thấy ánh lửa của một thành phố lớn đang bốc cháy. Và thế là để làm hài lòng bạo chúa, lũ triều thần xu nịnh do Tygelinux cầm đầu đã đang tâm châm lửa thiêu cháy thành Roma. Vốn hèn nhát, Nerô không dám chịu trách nhiệm bởi kinh sợ cuộc nổi dậy của quần chúng đang sục sôi căm giận, hắn bèn tìm cách trút tội cho các tín đồ Thiên chúa giáo. Hắn tháo cũi sổ lồng cho sự tàn bạo của đám quần chúng đang đòi nợ máu được thả sức hoành hành trong cuộc khủng bố, với tiếng thét “ném bọn Thiên chúa giáo cho sư tử”, với cảnh tàn sát hàng loạt người bằng nanh vuốt của dã thú, bằng cách đóng đinh lên thánh giá, bằng cách thiêu sống… Tàn bạo bao nhiều thì đớn hèn bấy nhiều - đó là cốt cách muôn thủa của lũ bạo chúa. Nerô tàn bạo trước cái chết của hàng nghìn người khác, nhưng đến lượt hắn, hắn run rẩy không sao đâm nổi dao vào cổ tự sát, để rốt cuộc phải nhận một cái chết nhục nhã mà lịch sử vẫn dành cho lũ bạo chúa, xưa cũng như nay.&lt;br /&gt;Sienkievich đã thành công tuyệt diệu khi sử dụng nhân vật Petronius - cố vấn của Nêrô về các vấn đề nghệ thuật - làm người phát ngôn cho tư tưởng của tác giả và người cung cấp cho người đọc những nhận xét xác đáng về tên bạo chúa - nghệ sĩ có bản chất phức tạp này. Qua con mắt của con người nghệ thuật đặc biệt trang nhã và quảng trí này, toàn bộ cốt cách vừa bi vừa hài, vừa hèn, vừa bạo của tên nghệ sĩ giả - bạo chúa thật Nêrô hiện lên sắc sảo vô cùng. Một chút tài năng cỏn con nhưng luôn tự huyễn hoặc chính mình, cộng với một quyền lực vô biên về phương diện xã hội đã biến hẳn thành một kẻ điên rồ, sẵn sàng phạm những tội ác ghê gớm nhất. Còn gì có thể lột tả chân xác hơn tính cách của Nêrô bằng lời tâm sự của chính hắn thốt với Petronius trong cái “đêm cởi mở” trước ngày đốt cháy thành Rôma: “Trong mọi lĩnh vực ta đều là nghệ sĩ (… ) nên ta không thể nào sống nổi một cuộc đời bình thường. Âm nhạc mách bảo ta rằng có tồn tại những sự phi thường, ta sẽ dùng toàn bộ sức mạnh quyền uy mà các thần linh đã đặt vào tay ta để tìm bằng ra sự phi thường ấy. Nhiều khi ta nghĩ rằng muốn đạt được thế giới Olympơ, cần phải làm một điều gì chưa từng có kẻ nào làm, cần phải vượt qua đầu mọi người trong cả việc tốt lẫn việc xấu (… ). Ta đâu có điên, ta chỉ đang tìm kiếm! (….). Ta muốn được vĩ đại hơn con người, vì chỉ bằng cách đó ta mới có thể trở thành nghệ sĩ vĩ đại nhất”. Và sau đó hắn thốt lên: “Nặng nề lắm thay khi con người phải mang đồng thời gánh nặng của quyền lực tối cao lẫn gánh nặng của tài năng vĩ đại nhất” (chương XLIV).&lt;br /&gt;Có thể nói nhân vật Petronius là hiện thân của những tinh hoa của nền văn hóa La Mã trong giai đoạn suy vi của nó. Ông đại diện cho những giá trị văn hóa sẽ trường tồn để được hồi sinh trong những thế hệ về sau. Tình phi thường của Petronius xuất phát từ trí tuệ mẫn tiệp vượt trên những người đồng thời với ông sự hiểu biết sâu sắc không những chỉ đối với mọi người, mọi vật mà trước hết đối với bản thân mình, mặc dù thực ra ông đại diện cho một thứ triết học duy vật - bất khả tri trong việc nhận thức thế giới. Sống trong lớp vỏ hình bình thản, thanh lịch theo kiểu Pirron nhưng Petronius vẫn là con người hành động và nhất là dũng cảm trong dịp bảo vệ cái đẹp. Cái chết hào hoa của ông giữa bữa tiệc rượu trong tiếng nhạc và tiếng thơ Anakreontơ là một hình ảnh tượng trưng tuyệt mỹ. “Nhìn hai tấm thân trắng ngủ tựa như những pho tượng tuyệt vời ấy, các thực khách hiểu rõ rằng: Cùng với hai con người ấy đã chết đi cả những gì còn sót lại cho thế giới của họ, đó là thi ca và cái đẹp” (chương LXXIV).&lt;br /&gt;Hai nhân vật có tính cách phát triển mạnh mẽ nhất trong tác phẩm là lão Khilon và chàng quý tộc Vinixius. Vốn là một tên múa mép, chuyên lừa đảo kiếm tiến bằng nghề thám tử tư. Khilon đứng ra làm nhân chứng giả cho Nêrô trút tội đốt cháy thành Rôma cho các tín đồ Thiên chúa giáo và vì thế hắn đã nhảy lên địa vị của một viên cận thần đầy thế lực. Nhưng đến khi tận mắt chứng kiến sự tuẫn tiết của các tín đồ - những nạn nhân của hắn, cũng chính là những người đã từng cưu mang hắn. Khilon đã không cưỡng nổi những sự tỉnh thức nội tâm và công khai đứng ra lên án Nêrô là kẻ chủ mưu đốt cháy thành phố. Trở thành tín đồ Thiên chúa giáo chân chính. Đến khi chịu cực hình, lão Khilon vẫn khăng khăng không chịu rút lời buộc tội, đến nỗi kẻ thù phải rút lưỡi lão và giết lão trên đấu trường. Sự chuyển biến của nhân vật có vẻ nghịch lý nhưng hoàn toàn lôgich và chân thực, nhân vật Khilon đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng khó quên.&lt;br /&gt;Còn sự biến chuyển của Vinixius thì phức tạp và gian khổ hơn nhiều, trải qua biết bao giai đoạn nhận thức, dù động lực chính của nó là tình yêu vô bờ bến đối với nàng Ligia. Từ một chàng quý tộc con nhà giàu có, ham lạc thú, vô lương tâm, nghiệt ngã với nô lệ. Vinixius đã lột xác bao lần để nhận thức được giáo thuyết của đạo Thiên chúa, một giáo thuyết hoàn toàn xa lạ với môi trường sống và địa vị xã hội cùng bản chất của chàng. Sienkievich đã thành công trong việc diễn tả cuộc lột xác tinh thần đó.&lt;br /&gt;Ngay cả những nhân vật phụ cũng hiện lên rõ nét với bề dày tâm lý - xã hội đầy đủ dưới ngòi bút của tác giả. Những trang miêu tả cảnh sinh hoạt, những đám rước, những tiệc rượu, cảnh tàn sát giáo dân… Vô cùng sống động, chân thực, giàu màu sắc mà không chút khoa trương, mang đến cho người đọc không khí xã hội La Mã hồi đầu Công nguyên.&lt;br /&gt;***&lt;br /&gt;Với những giá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật lớn lao, ngay từ khi ra đời, Quo vadis đã được hoan nghênh nhiệt liệt. Tác phẩm đã gây nên những chấn động mạnh trong giới văn học nghệ thuật thế giới. Quo vadis nhanh chóng được dịch ra nhiều thứ tiếng. Từ lúc sinh thời, tác giả đã nhận được bản dịch Quo vadis bằng các tiếng Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Italia, Nga, Thụy Điển, Đan Mạch, Hà Lan, Tiệp Khắc, Hunggari, Bồ Đào Nha, Hy Lạp, Acmênia, Phần Lan, Lítva, Nhật và Ả Rập. Cho đến nay, Quo vadis đã được dịch ra trên bốn mươi thứ tiếng khác nhau. Tác phẩm cũng rất nhiều lần được đưa lên sân khấu và màn ảnh ngay từ những năm xa xưa nhất, đồng thời nó cũng trở thành đề tài của không ít công trình khảo cứu, không những chỉ ở Ba Lan mà trên phạm vi thế giới.&lt;br /&gt;Chuyển đạt lời văn của H. Sienkievich đến bạn đọc là một khó khăn lớn đối với người dịch, đặc biệt là trong trường hợp Quo vadis, bởi lẽ tiểu thuyết đề cập đến một thời đại, một nền văn hóa xa xưa có nhiều khác biệt với bạn đọc Việt Nam ngày nay. Để phần nào hỗ trợ cho bạn đọc trong việc tìm hiểu tác phẩm, chúng tôi có soạn thêm phần chú thích (bố trí ở cuối tập II) đề cập đến một số tên người và địa danh có trong tác phẩm nhưng không phổ biến lắm ở ta. Chúng tôi hy vọng rằng, mặc dù có những khiếm khuyết và hạn chế khó tránh khỏi, bản dịch Quo vadis từ nguyên bản tiếng Ba Lan sẽ là một dịp để bạn đọc tiếp xúc với Henryk Sienkievich, một nhà văn kiệt xuất, người đại diện xứng đáng cho nền văn học cổ điển rất phong phú của dân tộc Ba Lan&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hà Nội, ngày 9 tháng năm 1985&lt;br /&gt;NGUYỄN HỮU DŨNG&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chú thích:&lt;br /&gt;(1) Tên tác phẩm để nguyên theo mẫu tự La Tinh. Đọc là Quơ Vadis và có nghĩa: Đi đâu&lt;br /&gt;(2) Tựa đề của tác phẩm lấy theo tên nhà thờ nhỏ này và bắt nguồn từ một truyền thuyết của đạo Thiên chúa. Tương truyền rằng khi Nêrô ra lệnh truy nã và khủng bố các tín đồ Thiên chúa. Sứ đồ Piotr phải rời khỏi Roma để lánh nạn. Trên đường đi Piotr thấy Đức Chúa Jêxu Crixius hiển hiện, bèn hỏi: "Quo vadis Domine?" (Latinh: Người đi đâu vậy thưa Đức Chúa?... ). Chúa đáp "Khi ngươi rời bỏ dân ta thì ta phải đến Roma để chịu đóng đinh câu rút lần thứ hai". Sứ đồ Piotr tỉnh ngộ, quay trở về Roma, rồi tử vì đạo cùng các con chiên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;http://maxreading.com/sach-hay/quo-vadis/loi-gioi-thieu-14816.html&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/1383639910623827964-7135898591491632938?l=trungfq.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel="replies" type="application/atom+xml" href="http://trungfq.blogspot.com/feeds/7135898591491632938/comments/default" title="Đăng Nhận xét" /><link rel="replies" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2011/07/tieu-thuyet-oat-giai-nobel-noi-tieng.html#comment-form" title="0 Nhận xét" /><link rel="edit" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/7135898591491632938?v=2" /><link rel="self" type="application/atom+xml" href="http://www.blogger.com/feeds/1383639910623827964/posts/default/7135898591491632938?v=2" /><link rel="alternate" type="text/html" href="http://trungfq.blogspot.com/2011/07/tieu-thuyet-oat-giai-nobel-noi-tieng.html" title="Tiểu thuyết đoạt giải Nobel nổi tiếng Quo vadis?" /><author><name>Phạm Quang Trung</name><uri>http://www.blogger.com/profile/14901332933612324160</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel="http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail" width="32" height="24" src="http://3.bp.blogspot.com/---EG_fDe9VI/TvB1ij_Gm0I/AAAAAAAAALg/BW3RCHyMMrg/s220/TRUNG.jpg" /></author><thr:total>0</thr:total></entry></feed>

