<?xml version='1.0' encoding='UTF-8'?><rss xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom" xmlns:openSearch="http://a9.com/-/spec/opensearchrss/1.0/" xmlns:blogger="http://schemas.google.com/blogger/2008" xmlns:georss="http://www.georss.org/georss" xmlns:gd="http://schemas.google.com/g/2005" xmlns:thr="http://purl.org/syndication/thread/1.0" version="2.0"><channel><atom:id>tag:blogger.com,1999:blog-4568422884507290858</atom:id><lastBuildDate>Sun, 19 Oct 2025 07:25:07 +0000</lastBuildDate><category>China</category><category>Bitcoin</category><category>HS-TS</category><category>Politics</category><category>Statistics</category><category>FX</category><category>Inequality</category><category>Regulation</category><category>Banking</category><category>Book</category><category>Charity</category><category>Data</category><category>Econometrics</category><category>Economics</category><category>Education</category><category>Flooding</category><category>Geopolitics</category><category>Hydrodams</category><category>Inflation</category><category>Labor</category><category>Law</category><category>Macro</category><category>Nobel</category><category>Oil</category><category>Topics</category><category>Bad Debt</category><category>Big Mac Index</category><category>Budget</category><category>Constitution</category><category>Environment</category><category>Fed</category><category>Finance</category><category>Financial Planning</category><category>Forecast</category><category>GDP</category><category>Gambling</category><category>Gini</category><category>IMF</category><category>Identity</category><category>Kiva</category><category>Letter</category><category>Micro finance</category><category>Money &amp; Banking</category><category>PPP</category><category>Paulson&#39;s plan</category><category>Philippines</category><category>REER</category><category>Restructuring</category><category>Russia</category><category>Socialism</category><category>Stock</category><category>The Economist</category><category>Time Series</category><category>VAMC</category><category>Vietnam</category><category>Yellen</category><title>giangle</title><description>&quot;The market can stay irrational longer than you can stay solvent.&quot; - John Maynard Keynes</description><link>http://kinhtetaichinh.blogspot.com/</link><managingEditor>noreply@blogger.com (Anonymous)</managingEditor><generator>Blogger</generator><openSearch:totalResults>1092</openSearch:totalResults><openSearch:startIndex>1</openSearch:startIndex><openSearch:itemsPerPage>25</openSearch:itemsPerPage><item><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4568422884507290858.post-7073235600442006502</guid><pubDate>Sun, 31 Dec 2017 04:14:00 +0000</pubDate><atom:updated>2018-01-12T14:16:14.086+10:00</atom:updated><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">Bitcoin</category><title>Bitcoin II</title><description>&lt;br /&gt;
Thế giới không thiếu các nhà tỷ phú lập dị nhưng có lẽ không ai giống Satoshi Nakamoto. Ở thời điểm cuối tháng 12/2017 số bitcoin mà Nakamoto sở hữu có giá trị hơn 10 tỷ đô la, nếu Nakamoto là một người thì ông/bà ta đứng trong Top 100 danh sách những người giầu nhất thế giới của tạp chí Forbes. Nhưng khác với tất cả các tỷ phú khác, Nakamoto không hề động đến một xu trong khối tài sản đó và có lẽ danh tính thực của nhân vật này sẽ vĩnh viễn là một bí mật của lịch sử.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tháng 10/2008 Satoshi Nakamoto, chỉ được biết đến dưới một cái tên ảo trên một diễn đàn của các chuyên gia mật mã học (cryptography), công bố một bài viết phác thảo một hệ thống tiền điện tử không cần bất kỳ một quyền lực tập trung nào quản lý/xác thực hoạt động thanh toán giữa các thành viên. Đầu năm 2009 Nakamoto công bố mã nguồn mở cho hệ thống tiền tệ này và gọi đồng tiền đó là bitcoin. Vào thời điểm kích hoạt hệ thống Nakamoto tạo ra và phân phát miễn phí một số bitcoin cho các thành viên ban đầu, còn gần 1 triệu bitcoin trong tài khoản đã không bao giờ được Nakamoto đụng đến. Cuối năm 2010 nhân vật bí hiểm này tuyên bố rời cuộc chơi rồi biến mất vĩnh viễn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trải qua nhiều thăng trầm đồng bitcoin đã tăng giá trị từ vài chục cent lên đến gần 20 nghìn đô la, tạo ra một cơn sốt mà nhiều người cho rằng không kém vụ bong bóng giá hoa tulip ở Hà Lan trong thế kỷ 17. Hàng nghìn biến thể ăn theo của bitcoin ra đời sinh ra một thuật ngữ mới vô cùng thời thượng: tiền mật mã (cryptocurrency), những đồng tiền điện tử có cơ chế tương tự như bitcoin hoàn toàn do tư nhân tạo ra. Đến giữa tháng 12/2017 tổng giá trị của những đồng tiền này đã vượt 500 tỷ đô la còn giao dịch hàng ngày vượt giao dịch chứng khoán trên sàn New York. Các định chế tài chính lớn bắt đầu có những động thái chấp nhận bitcoin dù có vô số ý kiến trái chiều của giới kinh tế và cả các nhà hoạch định chính sách.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ trước tới nay bất kỳ đồng tiền nào cũng cần sự chấp nhận và tín nhiệm của một cộng đồng dân cư. Các đồng tiền quốc gia có được điều này nhờ quyền lực nhà nước đứng đằng sau, bao gồm cả vũ lực lẫn sức mạnh kinh tế nhà nước. Với đồng bitcoin Satoshi Nakamoto đã thay thế quyền lực tập trung bằng hai nguyên lý cơ bản dựa vào các thuật toán mật mã học. Nguyên lý thứ nhất blockchain là một kết hợp khéo léo của một dạng hàm mật mã (hash function) với hệ thống sổ sách (ledger) ghi lại toàn bộ quá trình luân chuyển của một đồng bitcoin từ lúc nó được tạo ra. Ứng dụng mật mã học vào sổ sách kế toán đảm bảo một khi giao dịch bitcoin đã được ghi vào sổ thì không một ai có thể thay đổi được nữa mà không bị phát hiện.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nguyên lý thứ hai proof-of-work (POW) là một khái niệm đã được các nhà mật mã học phát triển khá lâu trước Nakamoto. Theo đó một cá nhân có thể tự chứng minh mình đã tốn một lượng thời gian công sức nhất định để tìm ra lời giải một bài toán mật mã mà sau đó bất kỳ ai cũng có thể kiểm chứng điều đó dễ dàng. Năm 1997 Adam Black đã ứng dụng thành công khái niệm này cho một hệ thống chống email rác bằng một công nghệ mà ông đã đặt cho một cái tên đầy tính dự báo: Hashcash. Có thể nói nôm na hashcash là một cái tem thư dán lên từng email đến một địa chỉ nhất định. Dù không quá đắt để gửi một email nhưng nếu một người gửi hàng chục nghìn email rác thì sẽ cần hàng chục nghìn cái tem với chi phí không hề nhỏ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ ý tưởng hashcash Nakamoto đã rất tài tình ứng dụng khái niệm POW thành một cơ chế khuyến khích các thành viên đơn lẻ trong hệ thống bitcoin tham gia vào quá trình mã hóa blockchain, gián tiếp ngăn chặn khả năng một vài cá nhân thiểu số có ý định làm giả hoặc sửa đổi blockchain. Nhờ đó bitcoin đảm bảo được đặc tính không thể bị làm giả và không ai có thể tiêu một đồng bitcoin hai lần, chí ít với năng lực tính toán của toàn bộ máy tính trên thế giới ở thời điểm hiện tại. Tờ The Economist đã nhận xét công lao lớn nhất của Satoshi Nakamoto là tạo ra một hệ thống giao dịch phi tập trung không cần niềm tin (trust) mà chỉ cần các thuật toán. Nói cách khác công nghệ blockchain đã thay thế cho niềm tin vào quyền lực nhà nước hay giá trị nội tại của những thứ quí giá như vàng hay kim cương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Không chỉ dừng ở bitcoin và các đồng tiền mật mã, blockchain với nguyên lý phi tập trung và không thể thay đổi được đang dần dần được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực cần sự chính xác của thông tin và trung thực của các bên tham gia. Cuối tháng 11/2017 Sàn giao dịch chứng khoán Úc (ASX) đã băt đầu thử nghiệm một hệ thống lưu ký chứng khoán ứng dụng công nghệ blockchain. Trước đó De Beers, công ty khai thác và kinh doanh kim cương lớn nhất thế giới, xúc tiến việc sử dụng blockchain cho một hệ thống lý lịch tất cả các viên kim cương do họ sản xuất. Blockchain đã trở thành thời thượng đến mức có những công ty cố gắn thuận ngữ này vào tên của minh để kích giá cổ phiếu như thời dotcom gần 20 năm trước.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bỏ quả những đợt nhảy múa điên rồ của giá bitcoin hay phong trào nhà nhà ứng dụng blockchain, sự bùng phát của các thuật toán mật mã học trong các ứng dụng kinh tế, tài chính có thể là khởi đầu của những thay đổi xã hội sâu xa sau này. Satoshi Nakamoto phát minh ra cơ chế blockchain với mục đích tạo ra một đồng tiền xuyên biên giới không phụ thuộc vào nhà nước. Bitcoin tồn tại và vận hành dựa vào một cộng đồng gắn kết với nhau qua mạng Internet bất kể quốc tịch, mầu da. Hệ thống lưu ký chứng khoán sử dụng blockchain của ASX cũng vậy, nó loại bỏ vai trò của một cơ quan trung tâm giao toàn bộ việc vận hành và quản lý thông tin cho các thành viên trong hệ thống một cách dân chủ: ai cũng có tiếng nói như nhau và số đông sẽ thắng. Giáo sư Tyler Cowen đại học George Mason cho rằng việc đề cao (thành công) vai trò cộng đồng của bitcoin và công nghệ blockchain là một điểm sáng trong bối cảnh chính trị ngột ngạt hiện nay.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Không chỉ dừng ở các giao dịch tài chính, nguyên tắc đồng thuận cộng đồng thay thế cho quyền lực nhà nước thể hiện rõ hơn với các hợp đồng thông minh (smart contract) trên nền tảng Ethereum, một ứng dụng blockchain khác do Vitalik Buterin phát triển sau bitcoin vài năm. Với công cụ này nhiều loại giao dịch/khế ước dân sự trong tương lai sẽ không còn cần đến quản lý nhà nước. Sự bùng nổ các hoạt động huy động vốn (ICO) dựa vào hợp đồng thông minh trên Ethereum là một ví dụ. Cho dù nhiều quốc gia còn dè dặt với ICO, thậm chí cấm hoàn toàn hình thức này như ở Trung Quốc, ICO chắc chắn sẽ là đối thủ đáng gờm của IPO trong tương lai. Còn trước mắt bất chấp giá bitcoin nhảy như chong chóng nhiều dịch vụ chuyển tiền xuyên biên giới sử dụng hệ thống tiền tệ này (bitcoin rail) đang hoạt động rất hiệu quả cạnh tranh trực diện với các dịch vụ chuyển tiền truyền thống.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chính tính chất xuyên biên giới của bitcoin nói riêng và công nghệ blockchain nói chung là một điểm sáng nữa mà nhà báo Matt Levine của Bloomberg đã chỉ ra. Trong bối cảnh toàn cầu hóa bị chựng lại do cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi ở nhiều quốc gia phương Tây, các ứng dụng blockchain cho thấy những rào cản chính trị rồi sẽ bị công nghệ vượt qua. Tất nhiên còn rất lâu mới tới lúc quyền lực quốc gia thúc thủ trước blockchain hay các loại công nghệ khác nhưng một thế giới kết nối chặt chẽ hơn hay &quot;phẳng&quot; hơn là hệ quả tất yếu của xu hướng công nghệ này.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Có lẽ với Satoshi Nakamoto xây dựng được một cộng đồng không biên giới, công bằng, dân chủ (theo nghĩa mỗi máy tính là một lá phiếu - one CPU one vote) quan trọng hơn số tài sản hàng tỷ đô la vẫn nằm im lìm trong tài khoản gốc của hệ thống bitcoin. Dù số tài sản khổng lồ đó có thể bị bỏ phí, dù bitcoin có thể sẽ ra đi như nhiều đồng tiền khác trong lịch sử, công nghệ blockchain chắc chắn sẽ tiếp tục phát triển và sẽ thách thức những thể chế/cấu trúc xã hội đã tồn tại hàng nghìn năm qua để hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn cho nhân loại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[Một version của bài này đã được đăng trên TBKTSG ở &lt;a href=&quot;http://www.thesaigontimes.vn/267262/Blockchain-bitcoin-va-giac-mo-%E2%80%9Cdia-dang%E2%80%9D.html&quot;&gt;đây&lt;/a&gt;.]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;</description><link>http://kinhtetaichinh.blogspot.com/2018/01/bitcoin-ii.html</link><author>noreply@blogger.com (Anonymous)</author><thr:total>0</thr:total></item><item><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4568422884507290858.post-2109189868371526000</guid><pubDate>Sun, 20 Nov 2016 12:22:00 +0000</pubDate><atom:updated>2016-11-24T11:47:55.400+10:00</atom:updated><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">Politics</category><title>US Election 2016</title><description>&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tại sao Donald Trump thắng cử? Đã có rất rất nhiều người trả lời câu hỏi này nhưng dù đồng ý với đa số các các phân tích tôi vẫn thấy các câu trả lời chưa thực sự đầy đủ. Mọi người chủ yếu tập trung vào sự bất mãn của tầng lớp trung lưu da trắng bị mất việc vì toàn cầu hoá, chán ngán sự dối trá của giới chính trị gia establishment, hay nỗi lo sợ khủng bố cộng với sự kỳ thị các sắc dân nhập cư. Một số khác đổ lỗi cho Facebook giúp phe ủng hộ Trump lưu truyền các thông tin bịa đặt hay lá thư của giám đốc FBI James Comey ngày 28/10 làm thay đổi cán cân. Với tôi có ba lý do chính kết hợp chặt chẽ với nhau, thiếu một trong ba Trump đã không thể thắng. Ba lý do đó là: (i) đặc thù của hệ thống bầu cử tổng thống Mỹ thông qua đại cử tri, (ii) sai lầm và yếu kém trong chiến dịch tranh cử của Hillary Clinton, (iii) sự phân cực chính trị trong xã hội Mỹ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;Hệ thống Đại cử tri (Electoral College - EC)&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nếu cuộc bầu cử vừa rồi diễn ra ở một nước nào khác chứ không phải Mỹ, Hillary Clinton (HC) đã thắng cử vì bà ta có tổng số phiếu bầu (popular vote) cao hơn Donald Trump (DT). Đây là lần thứ tư trong lịch sử bầu cử tổng thống Mỹ mà ứng viên có số phiếu bầu phổ thông cao hơn thất bại vì thua số phiếu EC. Cả bốn lần bên thua cuộc đều là người của đảng Dân chủ, lần cuối cùng năm 2000 khi Al Gore thua George Bush. Hệ thống bầu cử tổng thống với cơ chế EC (và &quot;winner take all&quot; tại mỗi bang) khá giống với hệ thống bầu thượng viện của các nước theo thể chế liên bang. Nguyên tắc này cho phép các bang nhỏ có tiếng nói lớn hơn trong hệ thống chính trị quốc gia vì mọi bang có (một phần) trọng số bầu cử cố định bất kể diện tích/dân số nhỏ hay lớn. Tuy nhiên nhược điểm của nó là nhiều khi một bang/thành viên nhỏ có thể cản trở sự đồng thuận của toàn bộ hệ thống, ví dụ trường hợp 3.6 triệu dân bang Wallonia của Bỉ đã suýt nữa phá vỡ hiệp định thương mại tự do giữa Canada và EU của hơn nửa tỷ người hồi tháng trước. Một nhược điểm nữa của hệ thống này có thể thấy trong nhiều thượng viện các nước liên bang là một vài chính trị gia độc lập hoặc của các đảng nhỏ có khuynh hướng populism có thể thắng cử.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Có lẽ nhiều bạn đã nhìn thấy đồ thị &quot;Path to victory&quot; này của Nate Silver, hình tượng hoá rất dễ hiểu tình hình phân bổ số phiếu EC ngay trước ngày bầu cử:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: center;&quot;&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: center;&quot;&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: center;&quot;&gt;
&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEh6sja8UCXyuDICz_Dxpthw0pfcTxFoQLDbj7of5mzCbskJAqqR_nhiAL3yhb3FGPX69F8HLtwCRwPyDvSE2vFu39RjSbNNHZ5X9Zx0QWXfNKmJsmCuzsStz_FNkPX7d8e_2msqRKPEcdw/s1600/Screen+Shot+2016-11-16+at+11.02.30+pm.png&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: 1em; margin-right: 1em;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;174&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEh6sja8UCXyuDICz_Dxpthw0pfcTxFoQLDbj7of5mzCbskJAqqR_nhiAL3yhb3FGPX69F8HLtwCRwPyDvSE2vFu39RjSbNNHZ5X9Zx0QWXfNKmJsmCuzsStz_FNkPX7d8e_2msqRKPEcdw/s320/Screen+Shot+2016-11-16+at+11.02.30+pm.png&quot; width=&quot;320&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;
(Nguồn: fivethirtyeight.com)&lt;/div&gt;
&lt;br /&gt;
Theo đó hai ứng viên xuất phát từ hai đầu là hai bang họ có xác suất thắng cử cao nhất, với HC là Washington DC, với DT là Nebraska. Các bang tiếp tục được xếp vào đồ thị từ hai phía theo thứ tự xác suất giảm dần. Điểm giữa của đồ thị là nơi mỗi ứng viên sẽ được 269 phiếu EC. Cho đến đêm trước cuộc bầu cử theo tính toán của Nate Silver bang New Hampshire rơi vào điểm giữa và HC có một chút lợi thế ở bang này. Tất nhiên đây chỉ là dự đoán của chuyên gia này và trừ các bang ở hẳn hai đầu, nghĩa là nơi hai ứng viên có ưu thế gần như tuyệt đối, các bang nằm hai bên đường trung tuyến hoàn toàn có thể có kết quả khác với dự báo. Tuy nhiên cả Nate Silver lẫn đa số các nhà bình luận khác đều cho rằng trận chiến thực sự sẽ ở các bang Florida, Iowa, Ohio, và North Carolina bên phải của đường trung tuyến, nghĩa là phe HC ở thế thượng phong. Vì DT nằm ở &quot;chiếu dưới&quot; nên ông ta buộc phải thắng hết ở 4 bang này, chỉ cần mất 1 trong số đó là cửa thắng của DT gần như không còn. Hầu hết mọi người, trong đó có tôi, cho rằng khả năng HC giành được 1 trong 4 bang đó khá cao, chưa kể kết quả bầu cử sớm của Florida và Nevada cho thấy tỷ lệ turnout của dân Mỹ Latin rất lớn, là dấu hiệu tốt cho HC.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tám tháng trước ngày bầu cử nhà báo Jim Edwards (Business Insider) đọc được một bài phân tích&amp;nbsp;trên Quora&amp;nbsp;của Matthew Gagnon, một nhà phân tích chính trị ít tên tuổi, về khả năng Trump thắng cử. Gagnon dự đoán Trump sẽ thắng Pennsylvania, Ohio, Michigan và Wisconsin, đủ để vượt qua ngưỡng 270 EC vote. Lập luận của Gagnon hệt như của Michael Moore sau này, những bang nói trên dù có truyền thống bầu cho đảng Dân chủ suốt từ thập kỷ 1980 nhưng lần này tầng lớp trung niên da trắng mất việc vì toàn cầu hoá rất dễ bị thuyết phục bỏ phiếu cho Trump. Ở thời điểm Trump còn chưa thắng primary của đảng Cộng hoà Jim Edwards, sử dụng một công cụ mô phỏng của chính Nate Silver trên trang web 538, chỉ ra rằng khả năng này hoàn toàn có thể xảy ra. Con đường ngắn nhất và dễ nhất để Trump thắng cử là tập trung nguồn lực vận động tranh cử để lấy phiếu của nhóm cử tri non-college white. Tính toán của Edwards cho thấy nếu Trump tăng được tỷ lệ ủng hộ của nhóm này từ 62% (tỷ lệ ủng hộ Mitt Romney năm 2012) lên 69% thì cục diện sẽ thay đổi hoàn toàn. Đến gần ngày bầu cử Edwards tính lại thì Trump chỉ cần tăng tỷ lệ này lên 65% là sẽ thắng. Kết quả theo exit polls ngày 8/11 Trump đã nâng được tỷ lệ nhóm non-college white bỏ phiếu cho mình lên 67%.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: center;&quot;&gt;
&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhPTLXKAK-Ntt5J-m4cQ96V0vOaXqu-QbCojY_p1c6mK6uqCZiLRUlBTzEMUKGhosSuTvClGnBu0vH1FAi0BnDMj70JbH6j5FSsYON5V5buVzdm3fhF8ZVnUfy35Y-1jZho9S7UaqP3zy8/s1600/EP-Eduction-by-race.JPG&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: 1em; margin-right: 1em;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;61&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhPTLXKAK-Ntt5J-m4cQ96V0vOaXqu-QbCojY_p1c6mK6uqCZiLRUlBTzEMUKGhosSuTvClGnBu0vH1FAi0BnDMj70JbH6j5FSsYON5V5buVzdm3fhF8ZVnUfy35Y-1jZho9S7UaqP3zy8/s320/EP-Eduction-by-race.JPG&quot; width=&quot;320&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;
(Nguồn: nytimes.com)&lt;/div&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy ngoài việc &quot;tử thủ&quot; các bang Florida, North Carolina, Ohio, và Iowa, Trump đã âm thầm tập hậu vào các bang Midwest/Rust-belt mà phe HC và đa số các nhà bình luận cho rằng đó là &quot;Blue Wall&quot; bất khả xâm phạm của đảng Dân chủ. Thực ra từ tháng 9/2016 Nate Silver đã nhận xét rằng phe Dân chủ có rủi ro là những bang này là khu vực &quot;buộc phải thắng&quot;, chỉ cần mất một bang trong vùng Rust-belt là xác suất thắng cử của HC sẽ giảm nghiêm trọng. Vì simulation của Silver sử dụng giả định sai số các polls có positive correlation với nhau (nghĩa là nếu một bang bất ngờ chuyển màu thì những bang lân cận sẽ bị ảnh hưởng cùng hướng), Blue Wall của phe Dân chủ lại rất gần khu vực &quot;battle ground&quot; (North Carolina, Georgia) nên dự báo của Nate Silver cho HC xác suất thắng thấp hơn hẳn của các tổ chức dự báo khác (NYT, PEC). Điều này làm Silver bị cả hai phe công kích cho rằng ông ta dự báo sai. Nhưng nếu nhìn vào đồ thị &quot;Path to victory&quot; bên trên có thể thấy những bang Blue Wall đó quả thực nằm rất gần vùng nguy hiểm, nếu cử tri ở 4 bang battle ground ngả sang phía Trump thì xu hướng này dễ lan sang các bang lân cận.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau khi Trump thắng cử và số liệu phiếu bầu được thống kê, Nate Silver đưa ra một phân tích đáng giật mình. Theo đó nếu trong 100 người bỏ phiếu cho DT chỉ cần 1 người chuyển sang bỏ cho HC, nghĩa là chỉ cần xấp xỉ 2ppt swing rate, là HC đã chiến thắng với hơn 300 EC vote và Silver sẽ dự báo đúng kết quả của 49 trong tổng số 51 bang, không tệ so với năm 2012. Điều này ngoài việc cho thấy thực ra cuộc bầu cử năm nay sát nút hơn tất cả các dự đoán trước đó, kể cả của Nate Silver và của chính phe Trump, nhưng nó cũng chỉ ra một điểm yếu quan trọng của hệ thống EC bầu cử tổng thống Mỹ. Nhìn lại đồ thị &quot;Path to victory&quot; bên trên bạn có thể thấy thực ra tổng thống Mỹ được quyết định bởi khoảng trên dưới 10 bang ở giữa chứ không phải toàn bộ 51 bang. Do đó ứng cử viên nào thuyết phục được cử tri ở những bang này thì nhiều khả năng sẽ giành thắng lợi, bất kể đa số dân chúng có đồng ý với ông/bà ta hay không. Trong kỳ bầu cử này 10 bang ở giữa đó có demography khá đồng nhất và có những lo lắng và lợi ích rất tương đồng nên Trump dễ đàng dụ được bằng một gói chính sách populism kết hợp protectionism với anti-immigration. Cho dù không tán thành hầu hết các chính sách/quan điểm của DT tôi không thể không đồng ý với phát biểu của ông ta năm 2012 là hệ thống EC của Mỹ rất phản dân chủ ở thời đại hiện nay. Nó không còn bảo vệ quyền lợi của các bang nhỏ nữa mà giúp cho một vài nhóm cử tri tình cờ rơi vào khoảng 10 bang ở giữa có tiếng nói quyết định.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;Chiến dịch tranh cử của Hillary Clinton&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm 2012 Obama thắng cử vang dội nhờ một phần vào việc phân tích số liệu trong quá trình tranh cử. Bởi vậy không khó đoán cả phe HC lẫn DT đều đầu tư vào các hệ thống thu thập và phân tích số liệu trong lần bầu cử này. Tổng budget chiến dịch tranh cử của HC gấp đôi của DT nên không khó đoán HC chi nhiều hơn cho hoạt động phân tích số liệu. Tuy nhiên nhiều tiền chưa chắc đã chất lượng, những tiết lộ sau cuộc bầu cử cho biết thuật toán Ada mà phe HC sử dụng đã có những dự báo sai lầm. Cụ thể, dù Ada dự đoán đúng Pennsylvania có rủi ro, nó đã quá chủ quan với những bang khác trong &quot;Blue Wall&quot;. Kết quả là bắt chấp DT đã đến Wisconsin vận động cử tri nhiều lần, HC không một lần dừng lại bang này trong suốt quá trình tranh cử vì đinh ninh rằng mình sẽ dễ dàng thắng ở đây. Cho đến giữa tháng 10 phe HC đã chủ quan đến mức cho rằng mình chắc chắn thắng nên bắt đầu quay ra vận động cho các ứng viên thượng viện và governor của đảng Dân chủ (down-ballot vote) nên đã phung phí nguồn lực ở những bang cực đỏ như Texas và Arizona, trong khi Trump vẫn kiên trì tấn công Rust-belt. Phải đến sát ngày bầu cử Ada mới phát hiện ra tình hình có vẻ nguy hiểm ở Michigan, phe HC lập tức dồn lực vào bang này, cử cả Bill và Obama đến vận động như đã quá muộn. Kết quả turnout ở Detroit, thành trì của phe Dân chủ ở Michigan, quá thấp không đủ để lật ngược tình thế trong toàn bang.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tất nhiên thuật toán chỉ là một phần, số liệu đầu vào mới là yếu tố quyết định. Ada, giống như tất cả các mô hình dự báo khác đều sử dụng số liệu polls ở cấp bang và cấp liên bang. Tính trung bình các polls đó đánh giá thấp DT khoảng 3ppt, cao hơn nhiều so với swing rate cần thiết để thay đổi kết quả bầu cử như Nate Silver đã tính toán sau này. Tất nhiên bản thân phe DT cũng sử dụng số liệu của các polls nên mô hình của họ đến trước ngày bầu cử cũng chỉ dự đoán xác suất thắng của Trump xấp xỉ 30%, nghĩa là không khác mấy Nate Silver. Phe DT thuê Cambridge Analytica, một công ty chuyên xử lý/phân tích dữ liệu, chạy mô hình cho mình. Công ty này là chi nhánh Mỹ của SCL Group ở London, một công ty số liệu đã giúp phe Leave thắng trong cuộc trưng cầu dân ý hồi tháng 6 ở Anh. Phân tích số liệu cử tri và hệ thống EC, Cambridge Analytica đã có kết luận khá giống Gagnon là Trump phải tập trung vào giới cử tri trung niên da trắng ở ba bang khu vực Rusk-belt là Michigan, Wisconsin và Pennsylvania. Đó là lý do tại sao DT đã rất tích cực vận động tranh cử ở khu vực này bất chấp bị chê bai là húc đầu vào đá. Vài ngày trước bầu cử Cambridge Analytica đã xác định Trump sẽ thắng khoảng 2-2.5ppt ở đây, điều mà hầu hết các local polls ở khu vực này dự báo sai. Tuy nhiên cũng cần nhắc lại trừ Wisconsin có swing rate khoảng 8ppt, các bang Blue Wall và 4 bang battle ground chỉ có sai số trong khoảng 1-3ppt, nằm trong ngưỡng sai số cho phép. Có điều đúng như lập luận của Nate Silver, các bang cạnh nhau khi có sai số đã cùng &quot;rủ nhau&quot; ngả sang phe DT, dù không quá lớn nhưng đủ để lật ngược thế cờ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chiến dịch tranh cử của phe HC không chỉ kém hơn về mặt phân tích số liệu. Với nguồn lực vượt trội, được vô số celebrity cũng như các CEO nổi tiếng ủng hộ, được hầu như tất cả các tờ báo lớn, kênh truyền hình uy tín endorse, HC đã không thể kéo nhiều cử tri của mình đến các hòm phiếu ngày 8/11 như Obama 4 năm trước đó. Không chỉ đa số cử tri thuộc nhóm non-college white, 58% toàn bộ nhóm dân da trắng, nhóm cử tri lớn nhất, đã bỏ phiếu cho Trump. Thậm chí tỷ lệ woman-college-white ngả về phía DT cũng lớn hơn phía HC bất chấp những quan điểm/phát biểu cực kỳ thô lỗ/kỳ thị giới tính của ứng cử viên này. Kết quả exit poll dưới đây cho thấy HC đã mất phiếu của tất cả các sắc dân chứ không chỉ dân da trắng so với Obama năm 2012, một bằng chứng rõ ràng về sự kém cỏi của kỳ vận động tranh cử của phe Dân chủ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: center;&quot;&gt;
&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiFx2UOrdwr-3BpJr9B7Pn34cU-6FNASzbkHtfAEMji2TKW-yEnjb7eunH9xHCblfAglpYKiYRiWb-hND4OtLp4Te18Yaxo6197cxkwFziu0OMODuQMq9g7QCypBJNhoFfhiZAs-RZ9USo/s1600/EP-Race.JPG&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: 1em; margin-right: 1em;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;68&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiFx2UOrdwr-3BpJr9B7Pn34cU-6FNASzbkHtfAEMji2TKW-yEnjb7eunH9xHCblfAglpYKiYRiWb-hND4OtLp4Te18Yaxo6197cxkwFziu0OMODuQMq9g7QCypBJNhoFfhiZAs-RZ9USo/s320/EP-Race.JPG&quot; width=&quot;320&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;
(Nguồn: nytimes.com)&lt;br /&gt;
&lt;div&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
Một điểm yếu quan trọng nữa là HC đã mất nhiều phiếu hơn cho nhóm cử tri độc lập, đảng Xanh (Green) và đảng Tự do (Libertarian), kém DT 6ppt. Bên cạnh đó dù giành được 7% phiếu bầu của các cử tri Cộng hoà nhưng HC lại bị mất 9% từ chính cử tri của đảng của mình, thậm chí bị mất 14% cử tri LGBT vào tay Trump. Bất kể tính khí thất thường và vô số cảnh báo từ giới quân sự và an ninh không được để Trump nắm giữ nút khai hoả vũ khí hạt nhân, HC chỉ được 34% quân nhân ủng hộ so với 61% dành cho một kẻ không những đã trốn quân dịch mà còn công khai dè bửu John McCain và Humauyn Khan, những người hùng thực sự của quân đội Mỹ. Còn nhiều con số thống kê exit poll khác cho thấy đối đầu với một đối thủ đầy scandal như Trump nhưng cuộc vận động tranh cử của HC đã không giành được ưu thế tuyệt đối, để rồi bức thư của Comey ngày 28/10 trở thành cọng rơm cuối cùng đánh sụm lưng con lừa Dân chủ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sai lầm lớn nhất của chiến dịch tranh cử của HC là đã bị cuốn theo trào lưu nói xấu, công kích cá nhân vô cùng tồi tệ của Trump. Thay vì tập trung phân tích sự nguy hiểm, sai lầm, trống rỗng trong các chính sách populism của Trump, HC lại chạy đua nói xấu cá nhân, điều mà chắc chắn bà ta không thể thắng một kẻ mạnh mồm/trơ trẽn như Trump. Nhiều nhà bình luận cho rằng cuộc bầu cử năm 2016 này &quot;ugly&quot; nhất trong lịch sử Mỹ vì hai ứng viên chỉ chăm chăm bới móc, đả kích nhau. Vận động tranh cử như vậy không những bỏ qua các thảo luận chính sách quan trọng mà còn làm suy yếu niềm tin và sự tôn trọng của cử tri đối với hai bên, cả bên thắng cuộc sau này. Không phải ngẫu nhiên mà những quốc gia độc tài như Nga hay TQ &quot;hả hê&quot; nhìn Trump thắng cử, đó là bằng chứng rõ nhất cho tuyên truyền của họ là dân chủ phương Tây thực ra chỉ là một trò hề giả tạo. Trong gần 6 tháng của chiến dịch tranh cử chính thức, HC (và DT) đã làm hình ảnh của giới chính trị gia tồi tệ hơn trong mắt người dân, cả ở Mỹ lẫn những dân tộc đang mong muốn hướng đến một xã hội dân chủ như Mỹ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;Sự phân cực chính trị trong xã hội Mỹ&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đã có rất nhiều phân tích những lý do kinh tế/xã hội và cả tâm lý chán ngán giới chính trị gia establishment dẫn đến thất bại của HC. Tôi sẽ không nói thêm về những vấn đề đó nữa mà muốn chỉ ra một điểm ít nhà bình luận quan tâm đến: tính phân cực trong cơ cấu chính trị Mỹ. Ở hầu hết các nền dân chủ trưởng thành (Mỹ, Anh, Úc, Canada...) hệ thống chính trị có hai đảng lớn chi phối, thường một đảng theo khuynh hướng bảo thủ (conservative), đảng kia theo khunh hướng tự do (liberal) thay nhau nắm quyền. Quan điểm trung tâm của hai đảng có lúc gần, lúc xa nhau, phản ánh sự phân cực chính trị trong dân chúng. Khi sự phân cực trở nên gay gắt hệ thống chính trị sẽ khó vận hành vì hai bên ít còn điểm chung nên không dễ thoả hiệp. Đây là đặc điểm của hệ thống chính trị Mỹ trước cuộc bầu cử vừa rồi khi phe Cộng hoà bị nhánh Tea Party đẩy sang cực hữu còn phe Dân chủ bị Occupy Wall Street đẩy sang cực tả từ vài năm trước. Chính quyền Obama là nạn nhân của tình trạng phân cực này khi hầu hết các chính sách mấy năm sau này đều bị QH Mỹ do phe Cộng hoà nắm ngăn cản, bộ máy hành chính thậm chí còn bị &quot;shutdown&quot; hơn 2 tuần cuối năm 2013. Mặc dù approval rating của Obama vài tháng cuối vượt quá 50%, cao hơn tất cả các tổng thống Mỹ trừ Bill Clinton ở cuối nhiệm kỳ trong vài thập kỷ lại đây, cử tri Cộng hoà với quan điểm ngày càng cực hữu đã không công nhật bất cứ thành quả nào của ông: từ việc khôi phục kinh tế sau khủng hoảng đến mở rộng phạm vi bảo hiểm y tế cho hàng chục triệu người nghèo. Với họ, và nhất là với đa số nhóm non-college white, HC chỉ là một nối tiếp mờ nhạt của Obama. Họ muốn thay đổi dù phải bầu cho một người như Trump.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một hệ quả nữa của sự phân cực là khi cuộc đua vào vị trí ứng viên của hai đảng chính thức bắt đầu cuối năm ngoái những thành phần cực đoan của cả hai phía dễ dàng nổi lên. Phe Dân chủ có Bernie Sanders, phe Cộng hoà có Ted Cruz, Rand Paul, Ben Carson và tất nhiên là Donald Trump. Trump với bản tính &quot;bully&quot; của mình đã sử dụng một chiến thuật vô cùng tàn khốc triệt hạ không thương tiếc các đối thủ khác đồng thời nhử ra những chính sách tận cùng của cánh hữu: lùng bắt và trục xuất hàng triêu người nhập cư lậu, xây tường ở biên giới rồi bắt Mexico phải trả chi phí, sẵn sàng vi phạm nhân quyền cho mục tiêu chống khủng bố (tra tấn tù binh, bắt/giết gia đình của các nghi can khủng bố), cấm vô giới hạn phá thai đồng thời thả nổi vô giới hạn quyền sở hữu súng. Khi cuộc thảm sát ở nhà hát Bataclan xảy ra Trump tuyên bố nếu ông ta có mặt ở đó thì tình hình đã khác vì ông ta luôn đem súng theo người. Trump cũng làm hài lòng giới establishment Cộng hoà với lời hứa sẽ huỷ bỏ Obamacare, Dodd-Frank, và cách chính sách bảo vệ môi trường/chống biến đổi khí hậu, đồng thời tăng chi tiêu quốc phòng và cắt giảm thuế cho doanh nghiệp/giới giầu có. Tuy nhiên ông ta thừa thông minh để hiểu chỉ có phiếu của phe cực hữu sẽ không thể đủ, muốn thắng cử phải giành được ủng hộ của một bộ phận cánh tả. Đó là lý do Trump tuyên bố sẽ huỷ bỏ TPP, đàm phán lại NAFTA, đánh 45% thuế lên hàng hoá nhập khẩu từ TQ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Platform tranh cử cực kỳ khôn ngoan này đáng ra phải đưa DT thành ứng cử viên con cưng của đảng Cộng hoà. Nhưng tính khí bất thường/bốc đồng/tự phụ của ông ta cộng với vô số scandal và những lời phát biểu thoá mạ đối thủ rất vô văn hoá, những lời nói dối/bịa đặt không ngượng mồm đã làm nhiều cử tri lẫn giới elite của cả hai đảng cho rằng ông ta không phù hợp cho vị trí lãnh đạo cao nhất nước Mỹ. Quan điểm khá thân thiện với Nga/Putin và ý tưởng rút dần vai trò sheriff của Mỹ trên trường quốc tế (isolationism) cũng làm đảng Cộng hoà lo ngại. Nhưng ở thời điểm 2016 đảng Cộng hoà đã bị đẩy sang cực hữu quá xa nên những ứng viên trung dung hơn như Jeff Bush, Marco Rubio, John Kasich không chịu nổi nhiệt tấn công của Trump dần dần rớt lại trong vòng primary. Đảng Cộng hoà đã phải &quot;bịt mũi&quot; đề cử Trump làm &quot;torchbearer&quot; cho mình, trong khi giới establishment của đảng này tìm cách lánh xa Trump như lánh xa con hủi. Hàng chục chính trị gia của đảng Cộng hoà, từ các cựu tổng thống đến các thượng/hạ nghị sĩ tuyên bố không ủng hộ Trump. Ngay cả Koch brothers cũng không ủng hộ và donate cho Trump, điều chưa từng xảy ra với các ứng viên Cộng hoà khác. Nhưng Trump không cần, ông ta hiểu rằng mình đã bỏ túi phần lớn cử tri của đảng Cộng hoà, những người mà giới bình luận chính trị sau này gọi là &quot;coming home voters&quot;. Vấn đề chỉ còn là làm sau lấy được Rust-belt.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trước ngày bầu cử tôi đã thầm nghĩ &quot;I&#39;m going to lose faith in humanity if Hillary won&#39;t win landslide&quot;. Tôi không tin đa số cử tri Mỹ có thể một tay bịt mũi một tay bầu cho một kẻ vô đạo đức như vậy, hay nói theo ngôn ngữ báo chí tôi không tin vào shy/silent voters sẽ xuất hiện lật ngược kết quả các polls trước đó. Trong xã hội Mỹ thế nào cũng có những thành phần bigotry/racist/misogynous/xenophobic thực tâm ủng hộ Trump, nhưng trong thế kỷ 21 này những kẻ đó không thể là đa số ngay cả ở những quốc gia kém phát triển hơn Mỹ nhiều lần. Lập luận cho rằng có nhiều người không muốn trả lời poll họ sẽ bầu cho Trump vì họ xấu hổ phải công khai điều đó càng chứng tỏ những giá trị Trump cổ suý/bộc lộ không phù hợp với hệ thống đạo đức/giá trị hiện tại (nên người ta mới lo ngại/xấu hổ khi phải nói ra). Nhưng tôi đã nhầm, hoặc tỷ lệ cử tri có quan điểm bigotry/racist/misogynous/xenophobic nhiều hơn tôi tưởng hoặc số người dù không chấp nhận những quan điểm đó nhưng vẫn trung thành với đảng của mình (coming home republicans), đặt lợi ích của đảng lên cao hơn lợi ích đất nước và các giá trị đạo đức của họ, đã giúp DT lật ngược thế cờ.&amp;nbsp;Với tôi dù Trump có hứa sẽ giành lại HS-TS cho VN tôi cũng không bao giờ ủng hộ ông ta, điều đó vượt qua lằn ranh đạo đức của tôi. &quot;Shame on you America&quot; là phản ứng của tôi sau khi Trump thắng cử, tôi e rằng đó không phải lần cuối cùng tôi thốt lên câu đó trong 4 năm tới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: center;&quot;&gt;
&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiQ_AesAbIlKFWMErOEY96pTQbfYXClcxi-Hm_b53pqIFKUjeyc0cwkSQUMdlaFgX8SOt9SN-KUlAz57-B5jIcih6HpNbuXDxZ8_WOE3WYOrSe_r2BwBriNS16KyU4Fe17ARB4XX0Ayiyc/s1600/Screen+Shot+2016-11-20+at+1.18.20+pm.png&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: 1em; margin-right: 1em;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;400&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiQ_AesAbIlKFWMErOEY96pTQbfYXClcxi-Hm_b53pqIFKUjeyc0cwkSQUMdlaFgX8SOt9SN-KUlAz57-B5jIcih6HpNbuXDxZ8_WOE3WYOrSe_r2BwBriNS16KyU4Fe17ARB4XX0Ayiyc/s400/Screen+Shot+2016-11-20+at+1.18.20+pm.png&quot; width=&quot;157&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;text-align: center;&quot;&gt;
(Nguồn: nytimes.com)&lt;br /&gt;
&lt;div&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;Lời kết&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy đặc thù của hệ thống bầu cử EC của Mỹ và chiến dịch tranh cử kém hiệu quả của HC là điều kiện cần, sự phân cực chính trị thái quá và lòng trung thành của đa số cử tri Mỹ với đảng của mình là điều kiện đủ để đưa một ứng cử viên như DT lên thành tổng thống. Đó là rủi ro của một hệ thống chính trị dân chủ và rủi ro này đang gia tăng trong một vài năm gần đây. Không chỉ ở Mỹ và không chỉ Trump, một số chính trị gia populist khác đã giành được phiếu một cách khá bất ngờ. Một số người đổ lỗi cho Facebook và các mạng xã hội tạo điều kiện cho những phong trào populism tuyên truyền những quan điểm/thông tin bịa đặt, một số viện dẫn Thomas Piketty cho rằng chủ nghĩa tư bản sẽ phải đối mặt với tình trạng này khi hố ngăn cách giầu nghèo càng ngày càng rộng, một phần vì toàn cầu hoá. Dù lý do là gì và giải pháp của thế giới thế nào trước phong trào populism/nationalism, sự trỗi dậy của Trump, Durtete, Le Pen, Farage đã làm tăng thêm uncertainty đáng kể cho những thế hệ tương lai. Có thể nói humanity đã trở nên uglier, dù chưa tệ hại như thời Hitler, Stalin, Mao, nhưng đủ làm tôi cảm thấy lo ngại cho thế hệ con cháu mình. Đã đến lúc tôi phải nghĩ cách &quot;hedge&quot; cho gia đình mình như đã làm cho các investment portfolio mà tôi quản lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng dù sao tôi vẫn tin tưởng vào thể chế chính trị dân chủ dẫu nó có nhiều khiếm khuyết. Bởi thế giới đã thử nghiệm nhiều thể chế khác, những thứ từng được tán tụng sẽ tươi đẹp hơn, để cuối cùng dẫn đến những xã hội mà nhân phẩm và nhân quyền của số đông thấp cổ bé họng bị chà đạp. Chí ít, dân chủ kiểu Mỹ, dù có bị gán cho đủ thứ xấu xa cũng còn đảm bảo cho một nhóm cử tri nhỏ ở các bang Midwest/Rust-belt, những người bị HC gọi là deplorable, lên tiếng để thay đổi thành công hệ thống mà không cần sử dụng/không phải đối mặt với bạo lực.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;i&gt;[Note: Một version của bài viết này đã được đăng trên soha.vn.]&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;i&gt;[&lt;b&gt;Update (copy từ comment bên FB):&lt;/b&gt;&amp;nbsp;Xin nói thêm một điểm cho rõ. Tôi viết bài này hoàn toàn là một &quot;intellectual exercise&quot; với mục đích trả lời cho câu hỏi tại sao DT thắng cử (ngược với điều tôi và nhiều người dự đoán). Tôi không có ý định thuyết phục ai thay đổi quan điểm chính trị, cách nhìn về tính cách hay chính sách của DT, nhất là với các fan &quot;cuồng Trump&quot;. Tôi cũng không phân tích ảnh hưởng của các chính sách của DT với nước Mỹ/thế giới/VN trong tương lai (trừ một câu cuối bài có tính chất cá nhân).&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;
&lt;i&gt;&lt;br /&gt;&lt;/i&gt;&lt;i&gt;Bài này dài và khó đọc, xin nêu lại 3 điểm chính:&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;
&lt;i&gt;&lt;br /&gt;&lt;/i&gt;&lt;i&gt;- Hệ thống EC ở thời điểm hiện tại cho phép 1 ứng cử viên chỉ cần tập trung vào khoảng 10 bang ở giữa thay vì cả 51 bang. Demography của 10 bang này năm nay (trung niên da trắng ít học bị thua thiệt vì toàn cầu hoá) giúp DT thắng cử với swing rate rất nhỏ.&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;
&lt;i&gt;&lt;br /&gt;&lt;/i&gt;&lt;i&gt;- HC campaign đã quá tệ/arrogant khi chủ quan bỏ qua khu vực rust belt, kém xa Obama 2 kỳ bầu cử trước trong việc tăng turnout và lôi kéo independent/green ủng hộ cho mình. HC tự làm xấu hình ảnh &amp;nbsp;của mình khi cố chạy đua thoá mạ cá nhân với DT (xem debate của HC vs DT rất bực mình, dù trước đó trong vòng primary HC debate với Bernie Sanders hoàn toàn về chính sách rất lịch sự).&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;
&lt;i&gt;&lt;br /&gt;&lt;/i&gt;&lt;i&gt;- Chính trị Mỹ từ trước tới giờ đã phân cực hơn hầu hết các nước phát triển khác (Canada, Úc, châu Âu), năm nay còn tệ hại hơn. Sự phân cực này giúp DT có thể đưa ra những chính sách rất cựu đoan mà không sợ bị mất phiếu. Trump đã từng nói rằng dù ông ta có bắn chết người giữa ban ngày ở Fifth avenue (NY) thì những người ủng hộ vẫn bầu cho ông ta.&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;
&lt;i&gt;&lt;br /&gt;&lt;/i&gt;&lt;i&gt;Tất nhiên còn có nhiều yếu tố khác nữa nhưng theo tôi đây là ba nguyên nhân căn bản, DT cần cả ba để thắng. Thực tế DT đã thắng thuyết phục, HC/Obama đã chấp nhận thua rất đúng mực và đúng luật. Dù rất ghét DT (nhân cách và chính sách) nhưng tôi nghĩ chấp nhận 4 năm &quot;tổng thống&quot; Trump là điều (cử tri Mỹ) phải làm, chống đối sẽ chỉ có hại cho nước Mỹ và nền tảng dân chủ. Tôi đồng ý với quan điểm của Luigi Zingales những người ghét DT không nên biểu tình vào lúc này, nên dành sức lực của mình cho những cuộc biểu tình trong 4 năm tới khi Trump đưa ra những chính sách sai trái. Hay như quan điểm của Mark Zuckerberg và Jamie Dimon trong thư gửi cho nhân viên sau ngày bầu cử, hãy chấp nhận khác biệt (trong quan điểm) để tiếp tục cùng nhau làm việc, hận thù/hằn học/bực tức không bao giờ đem đến điều gì tốt đẹp.]&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;</description><link>http://kinhtetaichinh.blogspot.com/2016/11/us-election-2016.html</link><author>noreply@blogger.com (Anonymous)</author><media:thumbnail xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" url="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEh6sja8UCXyuDICz_Dxpthw0pfcTxFoQLDbj7of5mzCbskJAqqR_nhiAL3yhb3FGPX69F8HLtwCRwPyDvSE2vFu39RjSbNNHZ5X9Zx0QWXfNKmJsmCuzsStz_FNkPX7d8e_2msqRKPEcdw/s72-c/Screen+Shot+2016-11-16+at+11.02.30+pm.png" height="72" width="72"/><thr:total>10</thr:total></item><item><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4568422884507290858.post-2279554030900450766</guid><pubDate>Sun, 06 Nov 2016 09:00:00 +0000</pubDate><atom:updated>2016-11-06T19:00:11.380+10:00</atom:updated><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">FX</category><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">IMF</category><title>SDR</title><description>&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì đặc tính và phương thức sử dụng rất phức tạp của SDR đã có nhiều ngộ nhận về khái niệm trên báo chí và ngay cả trong giới chuyên gia. Trước hết SDR không phải là một đồng tiền do IMF phát hành tương tự như đồng tiền của các quốc gia, dù quả thực Keynes đã có ý tưởng như vậy khi IMF thành lập năm 1945. SDR cũng không phải là một quĩ của IMF bao gồm 5 đồng tiền mà đồng Nhân dân tệ (CNY) của TQ vừa được đưa vào. Nhầm lẫn này xuất phát từ chính cách định nghĩa của IMF gọi SDR là một “tài sản dự trữ quốc tế&quot; (international reserve asset), thực ra IMF không hề có một tài sản nào (USD, EUR, CNY…) đằng sau số SDR đã được phát hành và trừ một số ngoại lệ hãn hữu nó không được dùng trong mua bán trao đổi hàng hoá/dịch vụ thực. Vậy bản chất của SDR là gì và định nghĩa “international reserve asset&quot; của IMF phải được hiểu như thế nào?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trước hết cần nhắc lại mỗi (ngân hàng trung ương) quốc gia đều có một “dự trữ quốc gia&quot; (national reserve), thường bao gồm hai thành phần: dự trữ ngoại hối và dự trữ vàng. Dự trữ ngoại hối về bản chất tương đương với dự trữ thanh khoản (liquidity reserve) trong các ngân hàng thương mại, có chức năng giúp các ngân hàng phòng hờ bị mất cân bằng thanh khoản. Một ngân hàng thương mại bị mất cân bằng thanh khoản khi ở môt thời điểm nào đó số tiền mặt khách hàng rút ra (bao gồm cả chuyển khoản sang ngân hàng khác) lớn hơn số tiền mặt được gửi vào. Khi đó ngân hàng phải sử dụng dự trữ để bù đắp cho sự mất cân bằng nói trên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Dự trữ ngoại hối của một quốc gia có vai trò tương tự, khi dòng ngoại tệ chảy ra lớn hơn dòng chảy vào dự trữ sẽ được sử dụng để bù vào phần thiếu hụt. Vì một quốc gia có thể giao dịch cùng lúc bằng nhiều đồng tiền khác nhau nên dự trữ ngoại hối cũng có thể bao gồm nhiều loại ngoại tệ. Những đồng tiền được một quốc gia đưa vào dự trữ ngoại hối của mình tuỳ thuộc vào quan hệ ngoại thương và đầu tư nước ngoài chứ không do IMF hay một tổ chức nào đó ấn định. Những đồng tiền dự trữ phổ thông nhất trên thế giới được giới kinh tế tài chính gọi (một cách không chính thức) là “đồng tiền dự trữ quốc tế”. Hàng quí IMF thống kê dự trữ ngoại hối của các nước và công bố tỷ lệ các đồng tiền được dự trữ (trong một database tên là COFER). Thống kê Q2 2016 cho bảy “đồng tiền dự trữ quốc tế&quot; phổ biến nhất là USD chiếm 63.4%, EUR 20.2%, GBP 4.7%, JPY 4.5%, AUD 2%, CAD 1.9%, CHF 0.3%. Tỷ lệ này khá tương đồng với tỷ lệ các đồng tiền được mua bán trên thị trường tài chính quốc tế (spot/forwards/NDF) và cũng không khác lắm tổng giá trị giao dịch liên ngân hàng quốc tế thông qua hệ thống SWIFT.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như đã giải thích bên trên dự trữ ngoại hối được sử dụng cho những thời điểm thanh toán quốc tế bị mất cân bằng, tương tự như dự trữ thanh khoản được các ngân hàng thương mại sử dụng khi họ bị mất cân bằng thanh khoản. Cũng tương tự như dự trữ thanh khoản, dự trữ ngoại hối gây tốn kém cho các quốc gia nên thường họ chỉ tích luỹ quĩ dự trữ này ở một mức tối thiểu, ví dụ theo nguyên tắc bằng giá trị của 3 tháng nhập khẩu mà IMF khuyến cáo. Tuy nhiên vẫn có môt số ngoại lệ như TQ hay Nga giữ một (vài) dự trữ ngoại hối lớn hơn nhiều nhu cầu đảm bảo cân bằng thanh khoản quốc tế. Những nước này giữ dự trữ ngoại hối lớn cho các mục tiêu kinh tế khác mà tôi sẽ không bàn thêm ở đây. Nhưng dù dự trữ ngoại hối có lớn thế nào đi nữa một nước vẫn có rủi ro bị mất thanh khoản, nghĩa là dự trữ không đủ bù đắp cho mất cân đối tạm thời, nhất là trong những giai đoạn khủng hoảng. Đó là một trong những lý do IMF ra đời năm 1945 và SDR được đề xuất năm 1969: xây dựng một (vài) cơ chế chia sẻ thanh khoản quốc tế để giảm bớt gánh nặng các quốc gia phải tiếp tục gia tăng dự trữ ngoại hối khi dòng vốn vào ra càng ngày càng lớn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tạm thời chưa bàn về các chức năng cho vay/giải cứu khác của IMF, cơ chế SDR về bản chất là một dạng quĩ danh nghĩa khi các quốc gia góp một phần dự trữ ngoại hối của mình vào để sử dụng chung khi một nước nào đó có nhu cầu. Gọi là quĩ danh nghĩa (notional) vì trên thực tế các nước không chuyển tiền cho IMF giữ/quản lý mà họ chỉ cam kết là nếu thành viên IMF nào cần vay theo cơ chế SDR thì họ sẽ cho vay không điều kiện. Đổi lại khi cần ngoại tệ để cân bằng thanh khoản quốc tế họ cũng có thể yêu cầu được vay từ các thành viên khác theo cơ chế này. Việc cho vay là tự nguyện nhưng IMF vẫn có cơ chế bắt buộc các thanh viên dư thừa thanh khoản phải cho vay nếu cần. Lưu ý cho đến thời điểm này tôi vẫn dùng thuật ngữ “cơ chế SDR&quot; chứ không nói “đồng SDR&quot;, việc vay/cho vay dự trữ ngoại hối giữa các thành viên IMF là “cơ chế SDR&quot; còn giá trị của các khoản vay sẽ được bút toán bằng “đồng SDR&quot; như giải thích bên dưới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bạn có thể thắc mắc bên trên tôi đã viết SDR không phải là một đồng tiền do IMF phát hành tại sao bây giờ lại xuất hiện “đồng SDR&quot;. Nhớ lại một đồng tiền (quốc gia) có ba chức năng chính: phương tiện thanh toán (medium of exchange), lưu giữ giá trị (store of value), và đơn vị kế toán (unit of account). Đồng SDR không phải là tiền vì nó (hầu như) không có hai chức năng đầu mà chỉ có chức năng thứ ba. Nghĩa là nó chỉ tồn tại trên sổ sách của IMF để ghi nhận các khoản vay/cho vay/góp vốn của các thành viên. Ngoại trừ các lý do lịch sử và chính trị, IMF và nhiều nhà kinh tế lập luận rằng sử dụng một rổ tiền tệ để bút toán các khoản vay/cho vay/góp vốn sẽ giảm bớt rủi ro tỷ giá cho các thành viên. Bởi vậy dù một nước vay một ngoại tệ nào đó thông qua cơ chế SDR số tiền vay luôn được qui đổi từ đồng tiền thực sự được trao đổi thành SDR với tỷ giá do IMF tính toán dựa vào tỷ giá thị trường và tỷ trọng các đồng tiền trong rổ SDR.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ví dụ nếu NHNN VN vay 100 tỷ yên Nhật (JPY) từ Ngân hàng Trung ương Nhật Bản thông qua cơ chế SDR vào ngày 3/10/2016 thì khoản nợ đó có giá trị qui đổi ra SDR &amp;nbsp;là 703.94 triệu, sử dụng tỷ giá SDR-USD và USD-JPY ngày hôm đó. VN sẽ có nghĩa vụ trả tiền lãi cũng như nợ gốc khi đáo hạn cho khoản 703.94 triệu SDR này. Tất nhiên cả khi vay cũng như khi trả lãi/gốc đồng tiền thanh toán giữa VN và Nhật vẫn là đồng yên, số lượng cụ thể được được tính từ giá trị SDR với tỷ giá SDR-USD và USD-JPY vào ngày thành toán. Tỷ giá USD-JPY là tỷ giá thị trường, còn tỷ giá SDR-USD được (IMF) tính dựa vào tỷ giá thị trường (với USD) của các đồng tiền trong rổ SDR (đồng USD ngầm định có tỷ giá là 1). Rổ SDR, bao gồm các đồng tiền được chọn và tỷ trọng của chúng, mà IMF dựa vào đó để tính tỷ giá SDR-USD hàng ngày được IMF công bố 5 năm một lần. Lần cuối cùng là ngày 1/10/2016, tuy nhiên việc đồng CNY được đưa thêm vào và tỷ trọng của 5 đồng tiền trong rổ đã được quyết định từ cuối năm 2015.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Quay lại định nghĩa “international reserve asset” của IMF. Như vậy asset ở đây phải hiểu là hệ thống SDR bao gồm (notional) assets mà các thành viên cam kết đóng góp vào. Tỷ lệ đóng góp được IMF phân bổ đúng bằng tỷ lệ quota (hay &quot;cổ phần&quot;) của các thành viên và đo bằng &quot;đồng SDR&quot;. Kể từ khi ra đời (năm 1969) IMF chỉ &quot;phát hành&quot;, theo nghĩa &quot;phân bổ&quot;, SDR vài lần với tổng số xấp xỉ 200 tỷ - rất nhỏ so với tổng dự trữ ngoại hối của các thành viên. Vì không ai phải đóng tiền vào khi được phân bổ SDR, số SDR mới này được coi như một dạng &quot;reserve asset&quot; bổ sung cho dự trữ quốc gia (ngoại hối&amp;nbsp;+ vàng). Nghĩa là dự trữ quốc gia của một nước được tăng lên thêm một khoản bằng với lượng SDR mà IMF phân bổ. Số dư tài khoản SDR của các nước tại IMF sẽ thay đổi khi họ vay/cho vay thông qua &quot;hệ thống SDR&quot;, do đó tỷ lệ nắm giữ SDR của các nước thay đổi theo thời gian không cố định như tỷ lệ quota của họ. Các nước &quot;con nợ&quot; sẽ có tỷ lệ nắm giữ SDR thấp hơn tỷ lệ quota.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tóm lại hệ thống SDR rất phức tạp và không mấy thành công (vì quá nhỏ). Nó ra đời vì IMF không thể sử dụng đồng USD một cách chính thức thay cho/bên cạnh vàng khi chế độ bản vị vàng sụp đổ. Việc đưa đồng CNY hay các đồng tiền khác vào rổ SDR trong tương lai phần nhiều sẽ là lý do chính trị và có tính biểu tượng là chính. Vai trò và ảnh hưởng của một đồng tiền quốc gia trên thị trường tài chính quốc tế vẫn được đo lường bằng các tỷ lệ giao dịch ngoại hối hay tỷ lệ dự trữ quốc gia (thống kê COFER) hơn là trọng số trong rổ SDR. Nhưng với nhiều nước tính biểu tượng cũng rất quan trọng, chí ít nó là dấu mộc của IMF cho tên tuổi của mình trên trường quốc tế.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;div&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
</description><link>http://kinhtetaichinh.blogspot.com/2016/11/sdr.html</link><author>noreply@blogger.com (Anonymous)</author><thr:total>4</thr:total></item><item><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4568422884507290858.post-6502085592411446545</guid><pubDate>Sun, 26 Jun 2016 02:29:00 +0000</pubDate><atom:updated>2016-06-26T12:33:09.413+10:00</atom:updated><title>Brexit diary</title><description>&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;i&gt;Tôi thường không chia sẻ công việc cá nhân lên blog và mạng xã hội, nhưng đây là ngoại lệ vì muốn ghi lại một sự kiện rất quan trọng trong lịch sử finance thế giới và của cá nhân. Bài này có nhiều thuật ngữ chuyên môn và những chi tiết kỹ thuật tôi xin phép không giải thích thêm, nhiều chi tiết về trading/strategy tôi cũng không muốn/được phép nói rõ. Một số thời điểm và số liệu trong bài có thể không chính xác, mong các bạn thông cảm. Bài này cũng không tranh luận Brexit đúng hay sai, chỉ thuần tuý về finance.&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;-2W&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
2 tuần trước ngày bỏ phiếu dù hầu hết các polls cho thấy phe Leave sẽ thắng, phân tích của giới kinh tế và chính trị cho rằng Brexit khó xảy ra vì thiệt hại cho kinh tế Anh sẽ rất lớn. Không chỉ các IB/broker, hầu hết các báo lớn, các tổ chức quốc tế, central bankers và các đảng chính trị lớn của Anh (trừ UKIP) đều ủng hộ Remain. Xác suất Remain trên thị trường cá cược, thường đúng hơn kết quả polls, cũng vậy. Một điểm khá quan trọng nữa là tâm lý sợ rủi ro nên muốn giữ status quo, nhiều người đến phút cuối sẽ sợ thay đổi vì hiện tại dù không đúng như ý mình nhưng là thứ mình đã biết, vote Leave chưa biết nước Anh sẽ về đâu. Đây là lý do nhiều cuộc referendum khác thất bại, cuộc trưng cầu tách Scotland năm 2014 là một ví dụ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Họp IC (investment committee) tôi đề xuất đặt cược vào cửa Remain, chủ yếu là long GBP và FTSE. Thực ra strategy này không hẳn cá cược vào một sự kiện chính trị, các mô hình dự báo của chúng tôi đều cho thấy GBP và FTSE đã undervalued khá nhiều vì thị trường lo lắng khả năng Brexit. Nếu không có referendum tôi vẫn sẽ long GBP và FTSE nhưng strategy sẽ hơi khác một chút và có lower leverage. Đáng ra betting vào Remain còn có thể short Gilt, nhưng các mô hình FI (fixed income) của tôi bị trục trặc nên đã phải stop-out ra trước đó và chưa kịp chỉnh sửa. Như vậy portfolio của tôi chỉ có equities và currencies nhưng tôi khá confident vì không mấy khi nhận định tình hình thị trường và kết quả mô hình support nhau như vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;-1W&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
Một tuần trước giờ G, portfolio bị âm nhẹ vì phe Leave càng ngày càng thắng thế trong các polls, betting odds bắt đầu cân bằng, GBP mất giá còn vàng liên tục lập đỉnh. Đúng lúc đó Jo Cox bị ám sát làm dư luận Anh đổi chiều rất nhanh. Hai ngày sau poll đầu tiên cho thấy Remain vượt lên, betting odds đổi chiều và các IB/brokers tiếp tục khẳng định vào Remain, lần này rất chắc chắn. Tất cả các thị trường, từ equity, FI, currency đến commodity và oil đều không có dấu hiệu gì bất ổn. IC quyết định giữ nguyên strategy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;Day 0&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
Sáng 23/6 (giờ Úc) portfolio của tôi đã có lời đáng kể. SurveyMonkey, một trong những survey ít ỏi dự báo đúng cuộc bầu cử Nghị viện Anh năm ngoái, có kết quả cuối cùng: Remain sẽ thắng. Xác suất Brexit trên thị trường cá cược chỉ còn trên 20%. Phân tích số liệu swaps (DCTT), options (CME) đều cho thấy market không tin khả năng có Brexit. Đồng GBP vượt qua 1.48, có lúc lên đến 1.50, giá vàng lao dốc, 10y Bund yield dương trở lại. Vix tăng hai ngày trước đó nhưng đã chựng lại, G3 Libor vẫn ổn định.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Team của tôi tính xong VaR và làm một số scenario analysis, worse case xác định GBP sẽ giảm 15%, FTSE mất 10% nếu Leave bất ngờ thắng. Họp IC có 2 ý kiến: (i) take profit vì khả năng upside không còn nhiều mà rủi ro Brexit vẫn có, (ii) stay on vì cả VaR và worse case cũng không bị thiệt hại nhiều, nếu Leave thắng khả năng GBP vượt 1.55 trong tầm tay. Phương án (ii) được chọn vì expected return (tính với xác suất 85% Remain thắng) vẫn dương nhưng IC yêu cầu tăng hedge (chủ yếu short Nikkei, Euro Stoxx và long JPY, CHF, short EUR).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phân tích biểu đồ và thời điểm công bố kết quả của 382 điểm bỏ phiếu, một kế hoạch emergency exit được đưa ra cân bằng giữa tỷ lệ Brexit và P&amp;amp;L của portfolio. Khi 75% kết quả được công bố cho thấy Brexit nhiều khả năng sẽ thắng và P&amp;amp;L còn trên một ngưỡng nhất định thì sẽ unwind các positions, ưu tiên cho GPB và FTSE trước nhưng phải đảm bảo net leverage không quá lớn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7pm Chairman từ London gọi điện thông báo chuẩn bị đi bầu cử. Tình hình thời tiết không thuận lợi vì mưa lụt một số nơi. Tuy nhiên không khí trong giới finance ở London rất lạc quan về khả năng Remain thắng, tình hình turnout có vẻ tốt. Về nhà mở FB ra thấy Vũ Thành Tự Anh report từ Oxford các điểm bầu cử rất vắng, nhưng tự nhủ chắc đám sinh viên và giáo sư Oxford lười nên bỏ phiếu qua mail hết rồi. Yên tâm đi ngủ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;Day 1&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
Sáng thứ Sáu 24/6 đến office sớm hơn thường lệ (cho ông con trai nghỉ học hôm nay để khỏi phải chở đến trường :-) ), nhưng đã thấy một cậu trader đến rồi đang ngồi xem Bloomberg TV. Thực ra không cần đến sớm vì đến tận 9:30am (giờ Úc) mới có kết quả của local đầu tiên, nhưng cuối cùng cả office ai cũng đến sớm hết. Kết quả poll cuối cùng của YouGov trong ngày 23/6 (giờ Anh) cho biết Remain sẽ thắng 52/48, tiếc rằng đây không phải exit poll. Nigel Farage, lãnh tụ UKIP và phe Leave, gần như đã chấp nhận thua cuộc vào phút cuối cùng trước giờ kiểm phiếu khi tuyên bố: &quot;It looks like the Remain will edge it&quot;. Tất cả các monitor bật news feed của Bloomberg, BBC, WJS... Dự kiến kết quả của local đầu tiên sẽ từ Sunderland vào khoảng 9:30am.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9:10: Bloomberg cho biết Newcastle đã kiểm phiếu xong nhưng kết quả too close to call. Vài giây sau đó BBC đưa tin Newcastle vote Remain, margin rất thấp. Kết quả cuối cùng margin chỉ là 51/49, thấp hơn nhiều so với dự báo 64% sẽ vote Remain.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9:25: Kết quả Sunderland công bố Leave thắng 61/39, vượt xa dự báo 55/45. Một cú shock lớn trên thị trường currency, đồng GBP lập tức rớt từ 1.49 xuống 1.44 chỉ trong vài giây. Điều mà thị trường và rất nhiều người (trong đó có chúng tôi) lo ngại là turnout demography có thể bất lợi cho phe Remain có vẻ đang trở thành hiện thực ở Newcastle và Sunderland, hai local đáng kể đầu tiên. Có vẻ như phe Leave đã có turnout lớn hơn rất nhiều dự kiến nên cán cân lệch hẳn về phía họ. Vì là referendum nên kết quả theo nguyên tắc one-person-one-vote, cho nên turnout rất quan trọng. Trước ngày bầu cử đã có ý kiến lo ngại ngày thứ Năm là ngày làm việc nên turnout ở London và trong giới trẻ sẽ bị ảnh hưởng. Không ai quan tâm đến ý kiến này cho đến đúng phút giây này, hoá ra quan sát của Tự Anh chính xác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9:45: Khoảng 10 local đã có kết quả, phe Remain vẫn hơn vài trăm phiếu nhưng tình hình có vẻ tiếp tục tồi tệ, tỷ lệ Leave của các khu vực Leave thắng đều lớn hơn dự kiến. Vài phút sau có tin City of London Remain thắng nhưng turnout chỉ hơn 73%, kết quả 60/40 kém xa dự kiến 75/25. Các local phụ cân London cũng có turnout không tốt. Quay qua nhìn biểu đồ của BBC thì phe Leave đã vượt tổng số vote của phe Remain. Từ giờ phút này trở đi phe Remain không bao giờ đuổi kịp nữa. Một trader thông báo tình hình liquidity châu Á rất tệ, chỉ trừ JPY-cross, hầu hết các đồng tiền khác không có liquidity.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10:15: Điểm local quan trọng tiếp theo là Swindon, dự kiến Leave thắng 55/45. Đây là local mà một số analyst cho rằng có thể phe Remain sẽ lật ngược thế cờ hoặc chí ít cũng thu hẹp khoảng cách. Kết quả không có gì bất ngờ, tỷ lệ Leave thắng không khác gì dự kiến, turnout 76%. Trong khi đó một loạt local nhỏ liên tiếp có surprise khi phe Leave thắng áp đảo vượt quá mong đợi. GBP leo lên 1.45 được một lát bắt đầu rớt trở lại, dễ dàng vượt qua 1.44. Lúc này mới quay qua nhìn các stockmarket châu Á, hồi sáng còn thấy Nikkei xanh bây giờ đã đỏ hết. Điển an ủi lớn nhất là các hedge đều move đúng như dự định.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10:30: Kết quả một số local của Scotland và Northern Ireland không có gì surprise, Remain thắng nhưng quá nhỏ để thay đổi cán cân. Biểu đồ trên BBC cho thấy phe Leave tiếp tục gia tăng khoảng cách hơn 20K vote. Đến khi 38 local thông báo kết quả thì Leave đã có hơn 100K khoảng cách. Ngạc nhiên là thị trường châu Á và futures markets dù đỏ nhưng không rớt thêm nữa. Một trader thông báo các broker/dealer cho biết họ đợi ngưỡng 50% report sẽ quyết định. Kế hoạch của tôi là ngưỡng 75%, như vậy sẽ đi sau thị trường khoảng 30-45 phút, băt đầu lo.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11:30: Phe Leave vượt ngưỡng 1 triệu, dự kiến bên nào đạt 16.5 triệu sẽ thắng. Còn khá xa nhưng Bloomberg cho biết đã có người dự báo khả năng Leave thắng là 50.2%, trong khi đó betting odd cũng bắt đầu favor Leave. GBP trượt xuống dưới 1.40, EUR dưới 1.12, AUD dưới 0.75, trong khi đó JPY vượt 103, CHF vượt 0.97. Kết quả Midland và Northern England không có gì bất ngờ Leave tiếp tục thắng. BI cho biết Lindsay Lohan đang tweet liên tục ủng hộ Remain. Lindsay Lohan? Vào giờ này?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12:00pm: Phe Leave nới rộng khoảng cách ra 200K, một bình luận viên nói có vẻ như đây sẽ chỉ còn là cuộc chiến giữa England vs London (+Scottland). Cuối cùng cũng nghe tin Lambeth và Wandsworth, hai&amp;nbsp;local gần London, Remain thắng áp đảo với 79/21 cao hơn tỷ lệ dự kiến, nhưng turnout vẫn không vượt 75%. Tỷ lệ turnout 71% của Scotland cũng thấp hơn dự kiến làm chiến thắng của phe Remain ở đây bớt sức nặng. Nên nhớ trong referendum này turnout cực kỳ quan trọng chứ không chỉ tỷ lệ thắng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12:30: Ngưỡng 50% local report sắp đạt, phe Leave đã hơn gần 500K, có lẽ Remain cần phép mầu mới lật ngược được thế cờ. Đúng như các broker thông báo, liquidity bắt đầu tăng vọt và mọi asset đều rớt mạnh trừ JPY và CHF (tất nhiên yield của JGB, Bund và cả Gilt giảm liên tục, nhưng tôi đã stay out of FI nên chỉ đứng nhìn thị trường này). Team của tôi tính correlation cho thấy các hedges vẫn rất tốt, thậm chí một số correlation còn cao hơn dự kiến (hedge tốt hơn). GBP giảm 7%, futures FTSE giảm 5% vẫn chưa đến một nửa worst case scenario của tôi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1:00: Khoảng cách vẫn trên dưới 500K, phe Leave đã vượt 10 triệu vote. Theo đúng kế hoạch tôi sẽ phải chuẩn bị unwind vì khả năng Leave thắng đã quá gần và ngưỡng 75% report sắp đến. Tuy nhiên panic sell ở thị trường châu Á giúp cho 2 hedging positions của tôi (short JPY &amp;amp; Nikkei) vượt quá expectation, nên dù thị trường bắt đầu hoảng loạn strategy của tôi vẫn tiếp tục up so với previous day close. Tôi quyết định delay thêm một thời gian vì đằng nào Tokyo cũng đang nghỉ trưa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1:30: Đã có 80% report và portfolio của tôi vẫn up, GBP đã tụt xuống 1.34, FTSE mất 8%. Thi trường châu Á đỏ rực, JPY xuống sát 100 nhưng các đồng tiền khác rớt thảm hại. Bloomberg cho biết ngân hàng trung ương Hàn quốc, Philippines, Malaysia tuyên bố sẽ can thiệp vào thị trường FX. Trong khi đó RBA và PBoC vẫn im hơi lặng tiếng, cũng dễ hiểu vì cả Úc và TQ đều muốn đồng tiền mình yếu đi. Có tin BoJ/MoF họp khẩn cấp và Kuroda sẽ có press conference. Mấy ngày trước báo chí đã đưa tin các CB lớn (Fed, ECB, BoE, BoJ, SNB) đã lên kế hoạch can thiệp đồng thời như đã làm sau vụ động đất ở Nhật năm 2011. BoJ lo ngại đồng JPY lên giá quá mạnh nhưng chưa thấy Mark Carney lên tiếng gì khi GBP rớt thê thảm. Có lẽ BoE không lo ngại bankrun, mà nếu có cũng phải vài tiếng nữa khi London open.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2:00: Kuroda tuyên bố sẽ bơm liquidity cho market và activate swap lines nhưng không đả động gì đến intervention. Tại sao BoJ chưa can thiệp, vì thấy chưa cần thiết hay chưa thoả thuận coordination được với các CB khác? Nhưng thực ra đây là một điều may mắn cho tôi vì nếu BoJ can thiệp JPY có thể đổi chiều và các hedge của tôi sẽ không perform tốt nữa. Như vậy nếu BoJ đang đàm phán với ECB và Fed thì tôi phải unwind ngay lập tức. Nhưng đúng lúc này tôi phát hiện ra mình đã mắc một sai lầm chết người. Tôi đã short Euro Stoxx futures để hedge FTSE, nhưng Eurex đến tận 4pm (giờ Úc) mới open. Hôm qua tôi khi tính ngưỡng 75% tôi không để ý điều này và cứ nghĩ nếu Leave thắng sẽ unwind ngay lập tức mà quên là phải đợi Eurex mở cửa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đổ thêm dầu vào lửa, một trader thông báo CME vừa activate circuit breaker với e-Mini là một hedging short khác của tôi, dự kiến phải đến tối (giờ Úc) mới có thể trade lại được. Quay qua FX, GBP tiếp tục lao dốc khi BBC, Sky đồng loạt kết luận Leave đã thắng trong khi JPY có vẻ đã chựng lại sau tuyên bố của Kuroda, CHF và EUR cũng không chạy theo GBP nữa. Correlation breakdown! Không thể chậm chễ được nữa tôi yêu cầu một trader đóng ngay GBP-JPY và một nửa equity portfolio. Vì chưa thể trade e-Mini và Euro Stoxx tôi phải để lại một phần FTSE để giữ net leverage không đổi. Vài phút sau các trade được hoàn thành, tất cả gain từ buổi sáng đã bị mất sạch chỉ trong chưa đầy 10 phút.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3:30: Leave đã chính thức thắng, BBC news feed bây giờ chỉ còn những phát biểu đổ lỗi của các chính trị gia. Một số IB/broker bắt đầu phân tích ảnh hưởng hậu Brexit, không hiểu các analyst ở đó có viết sẵn không mà ra bài nhanh thế. Một số dự báo Euro Stoxx mở cửa sẽ rớt 15-19%, có lợi cho tôi vì FTSE mới chỉ rớt 10%. Đáng tiếc là FX calm down trở lại, GBP ngóc đầu dậy quãng 1.36, JPY cũng vượt 102. Cũng may dù tôi đã sell GPB đúng đáy nhưng JPY và AUD hedge khá tốt. Bây giờ chỉ còn chờ xử ý nốt số equity còn lại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4:00: Eurex mở cửa, các cash market châu Âu cũng mở cửa. Ngạc nhiên là cash FTSE 100 chỉ rớt hơn 5% at open, nhưng hoá ra gần nửa số stock trong đó bị suspend. Lúc này CME cho phép trade e-Mini trở lại nhưng không reset ngưỡng circuit breaker, nghĩa là chỉ cần một sụt giảm nhỏ là exchange này sẽ lại ngừng giao dịch e-Mini. Tôi yêu cầu trader đóng nốt equity position một phần để tuân theo kế hoạch exit từ ngày hôm qua, một phần vì giá sàn của e-Mini sẽ không còn đảm bảo hedging strategy được nữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4:30: Mọi thứ đã xong, Leave thắng 52/48 với hơn 16.8 triệu vote, turnout 72%, không tệ nếu tính chung nhưng turnout demography đã giết phe Remain: những nơi vote Leave có turnout vượt quá dự kiến trong khi London (và Scotland) không đạt kế hoạch 75%. Báo chí lúc này chỉ còn bàn tán về số phận PM David Cameron và khi nào Anh sẽ activate Article 50. Tweet của một phóng viên cho biết Cameron sẽ resign còn Boris Johnson tuyên bố chưa nên activate A50. Rộ lên tin Scotland và Northern Ireland sẽ tổ chức referendum tách khỏi GB.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5:30: David Cameron tuyên bố resign sau khi thua canh bạc lớn nhất đời mình. Ông đã thua và kéo theo nước Anh vào một tương lai đầy bất định. Tôi cho rằng năm ngoái khi đối mặt với một UKIP đang lên Cameron đã sử dụng lời hứa sẽ tổ chức Brexit referendum để lấy phiếu, chắc mẩm rằng không bao giờ phe Leave có thể thắng. Một mũi tên nhắm 3 đích: vừa thắng cử, vừa giữ lại EU membership, vừa triệt hạ UKIP. Cameron bắn trúng mục tiêu thứ nhất, thắng vang dội tháng 5/2015, nhưng trượt mục tiêu thứ 2. Chính mục tiêu thứ 3, điều mà Cameron không còn khả năng bắn nữa vì đã resign, mới là điều làm tôi lo ngại hơn cả việc Anh rời khỏi EU. UKIP mà nói rộng hơn là phong trào nationalism cực hữu ở Anh và khắp châu Âu sẽ trỗi dậy. Không chỉ suy thoái/bất ổn kinh tế mà các rủi ro chính trị/địa chính trị trên toàn thế giới sẽ làm người dân mọi nơi khốn khó hơn nhiều. Bài học là: turnout rất quan trọng các bạn ạ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6:00: Viết nốt mấy cái report/analysis ngắn cho IC. Dù có một vài sai lầm và chậm trễ, portfolio của tôi nói chung không tệ so với 2 tuần trước. Thực ra tôi đã đặt cửa sai nhưng hedging tốt và đặc biệt là rất may mắn trong tuần cuối cùng trước bầu cử. Theo văn hoá VN phải thắp nhang vái lạy tạ ơn Jo Cox.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7:00: Đóng cửa office về nhà. Trên xe bất ngờ nghe Louis Armstrong hát What a wonderful world. Đúng vậy, 48 giờ qua chỉ là một hạt cát trong wonderful world này thôi, cứ phải &quot;bình tĩnh mà sống&quot;.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;</description><link>http://kinhtetaichinh.blogspot.com/2016/06/brexit-diary.html</link><author>noreply@blogger.com (Anonymous)</author></item><item><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4568422884507290858.post-9076097448717302684</guid><pubDate>Sat, 25 Jun 2016 08:40:00 +0000</pubDate><atom:updated>2016-06-25T18:40:11.566+10:00</atom:updated><title>Asset risk weighting</title><description>&lt;i&gt;&lt;br /&gt;&lt;/i&gt;
&lt;i&gt;Bài này đã được đăng trên TBKTSG gần đây:&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngân hàng trung ương truyền thống có hai nhiệm vụ chính: điều hành chính sách tiền tệ quốc gia và đảm bảo an toàn/ổn định cho hệ thống tài chính. Mặc dù sách giáo khoa kinh tế thường nói chính sách tiền tệ được thực hiện thông qua việc thay đổi (tốc độ) cung tiền cho nền kinh tế, trên thực tế hầu hết các ngân hàng trung ương đều sử dụng công cụ lãi suất (và tỷ giá) bằng cách bơm/rút thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng (qua OMO) hay các mệnh lệnh hành chính ấn định trần/sàn của lãi suất/tỷ giá hoặc tăng trưởng tín dụng. Nới lỏng định lượng (QE) là một công cụ mới mà Nhật bản sử dụng hơn chục năm nay và nhiều nước phát triển đã học tập sau cuộc khủng hoảng tài chính 2007/2009 vừa rồi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đối với nhiệm vụ đảm bảo an toàn cho hệ thống tài chính, các ngân hàng trung ương có hai công cụ truyền thống. Thứ nhất là thực hiện chức năng người cho vay cuối cùng cho các tổ chức tài chính. Trước đây chủ yếu thông qua cho vay tái chiết khấu (discount window/refinancing loans), sau cuộc khủng hoảng vừa rồi một số công cụ mới xuất hiện xoay quanh nguyên tắc hoán đổi một loại tài sản có nào đó của ngân hàng lấy thanh khoản (asset swaps). Công cụ thứ hai quan trọng hơn và càng ngày càng được mở rộng là hoạt động giám sát tính cẩn trọng (prudential supervision) của hệ thống ngân hàng. Đã có nhiều nỗ lực quốc tế nhằm thống nhất và chuẩn hoá các qui định giám sát này, cụ thể là các nguyên tắc an toàn vốn do Basel Committee đưa ra và được các tổ chức quốc tế như BIS, IMF, OECD khuyến cáo/yêu cầu các quốc gia áp dụng. Nhiều thước đo an toàn khác như tỷ lệ dự trữ tối thiểu (RRR), tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay dài hạn, tỷ lệ cổ phiếu sở hữu chéo... cũng nằm trong nhóm công cụ thứ hai này.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hiện tại NHNN đang hướng tới việc áp dụng chuẩn Basel II cho hệ thống ngân hàng VN mà một trong những nguyên tắc chính là giám sát tỷ lệ vốn tối thiểu (CAR) dựa trên mức độ rủi ro của các loại tài sản có của các ngân hàng. Quyết định sửa đổi thông tư 36 vừa rồi tăng hệ số rủi ro cho các khoản cho vay kinh doanh bất động sản từ 150% lên 200% thoạt nhìn cũng liên quan đến công cụ thứ hai của NHNN trong khuôn khổ Basel II, nhưng về bản chất không phải vậy. Thực chất tăng hệ số rủi ro của bất kỳ một tài sản có nào lên trên 100% là không cần thiết cho mục tiêu an toàn mà là một hình thức can thiệp vào cấu thành bản cân đối tài sản của các ngân hàng, dù gián tiếp có ảnh hưởng đến mức độ an toàn hệ thống nhưng hiện tại được liệt kê vào một nhóm công cụ thứ ba mà tôi sẽ bàn thêm bên dưới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khuyến cáo của BIS cho các nước sử dụng hệ số rủi ro cho vay nhà ở khi tính CAR khoảng 35%, thậm chí một số phân tích gần đây còn gợi ý có thể giảm xuống 25%. Ngay cả ở Úc, nơi hầu hết các nhà kinh tế cho rằng giá bất động sản bị bong bóng nhiều năm nay và có khả năng sụp đổ, cơ quan giám sát tài chính (APRA) cũng chỉ khuyến cáo các ngân hàng sử dụng hệ số 35% và không bắt buộc. Đối với bất động sản thương mại hoặc các khoản cho vay liên quan đến các dự án bất động sản có rất ít hoặc không có thế chấp, hệ số rủi ro có thể từ 75% đến 100%. Sở dĩ hệ số rủi ro tối đa là 100% vì thực ra con số này chỉ là tương đối, số vốn điều lệ cần thiết để làm bộ đệm (cushion) cho rủi ro không thu được hồi nợ còn phải tính đến CAR. Nếu ngân hàng trung ương muốn tăng mức độ an toàn của toàn hệ thống, nâng CAR lên đơn giản và hiệu quả hơn nhiều so với việc so đo hệ số rủi ro của hàng trăm/hàng nghìn loại tài sản có trên bản cân đối tài chính.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trở lại vấn đề sửa đổi thông tư 36, ngay cả hệ số rủi ro 150% trước đây cũng đã vượt quá khuôn khổ chống rủi ro của Basel. Không một khoản cho vay nào dù rủi ro đến đâu cũng có thể mất hơn 100% tổng số tiền cho vay. Có thể hiểu phần vượt trội trên 100% là một loại thuế ngầm đánh lên tín dụng bất động sản nhằm giảm nhiệt tốc độ tăng trưởng tín dụng trong lĩnh vực này mà mấy năm nay luôn cao hơn tốc độ tăng trung bình của tổng tín dụng. Việc điều tiết chính sách giám sát để thay đổi cơ cấu tài sản của bảng cân đối tài sản đã được giới kinh tế tranh luận vài chục năm nay và trở nên nóng lại sau cuộc khủng hoảng tài chính vừa rồi. Trong Basel III một phần ý tưởng này đã được đưa vào một cách không chính thức dưới tên gọi giám sát cẩn trọng vĩ mô (macro prudential supervision), có thể coi là một nhóm công cụ thứ ba của ngân hàng trung ương trong nhiệm vụ bảo đảm an toàn hệ thống. Các hình thức giám sát cẩn trọng truyền thống (CAR, RRR,...) được coi là micro prudential.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở tầm mức vĩ mô ngân hàng trung ương giám sát (và điều chỉnh) những chỉ số vĩ mô của toàn bộ hệ thống, ví dụ tốc độ tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ cho vay bất động sản, tốc độ tăng giá bất động sản/chứng khoán... Tuy nhiên quan điểm này không được sự đồng thuận của giới kinh tế học, vẫn có nhiều ý kiến cho rằng ngân hàng trung ương chỉ nên tập trung vào micro prodential supervision. Bởi vậy Basel III đưa ra một điểm mới trong giám sát cẩn trọng vĩ mô là các ngân hàng trung ương khoanh vùng một số tổ chức tài chính lớn mà nếu chỉ một trong số đó đổ vỡ có thể gây ra phản ứng dây chuyền. Những tổ chức tài chính này được gọi là tổ chức có tính quan trọng hệ thống (systemically important institution - SII) và phải chịu thêm một số chế tài nhất định. Ngoài việc phải duy trì những chỉ số an toàn như CAR cao hơn các tổ chức tài chính khác, SII còn phải thực hiện thêm hai biện pháp chống rủi ro nữa là kiểm tra sức chịu đựng (stress test) và có kế hoạch giải thể dự phòng (living will) nếu lâm vào tình trạng phá sản.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy có thể thấy xu hướng giám sát hệ thống tài chính của các ngân hàng trung ương tiên tiến đang hướng đến một số biện pháp vĩ mô nhưng tập trung vào một số SII chứ không dàn trải. Cụ thể trong trường hợp cho vay bất động sản, dư nợ của khu vực này có thể có rủi ro cao nhưng chắc chắn không đồng đều với tất cả các ngân hàng. Hiện tại dư nợ liên quan đến bất động sản của VN chỉ xấp xỉ trên 10% tổng dư nợ toàn bộ hệ thống, thấp hơn nhiều so với khoảng 60% của Úc hay 30% của Mỹ. Cho nên nâng hệ số rủi ro gấp đôi trần 100% nhằm giảm nhiệt của toàn bộ hệ thống chưa chắc đã là tối ưu. Trong khi một số ngân hàng có thể có nợ xấu bất động sản quá cao nên cần kìm hãm, nhiều ngân hàng khác vẫn còn dư địa cho vay một cách an toàn nên sẽ bị ảnh hưởng xấu bởi một chính sách cứng nhắc. Nền kinh tế và người dân có thể sẽ bị thiệt hại vì thị trường bất động sản không phát triển đúng tiềm năng chỉ vì NHNN không phân biệt được tín dụng tốt với tín dụng xấu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tóm lại &quot;đánh thuế ngầm&quot; lên tín dụng bất động sản không nhất thiết là một chính sách sai nhưng có thể NHNN chưa tính toán kỹ. Thay vì coi tín dụng bất động sản là một rủi ro lớn nên phải áp hệ số rủi ro lên đến 200%, NHNN cần xác định đâu là những điểm yếu trong toàn hệ thống và có biện pháp xử lý chúng. Ví dụ NHNN có thể thực hiện stress test cho một nhóm các ngân hàng có dư nợ tín dụng bất động sản cao nhằm tìm ra CAR phù hợp. Cần đặt macro prudential policy vào đúng vị trí của nó, tránh nhầm lẫn với các chính sách khác, nhất là chính sách tiền tệ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;</description><link>http://kinhtetaichinh.blogspot.com/2016/06/asset-risk-weighting.html</link><author>noreply@blogger.com (Anonymous)</author><thr:total>2</thr:total></item><item><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4568422884507290858.post-8921420171895826378</guid><pubDate>Sat, 25 Jun 2016 08:13:00 +0000</pubDate><atom:updated>2016-06-25T18:20:17.678+10:00</atom:updated><title>Panama papers</title><description>&lt;br /&gt;
&lt;i&gt;&lt;br /&gt;&lt;/i&gt;
&lt;i&gt;Dưới đây là bài trả lời phỏng vấn của tôi với báo Một Thế giới về vụ Hồ sơ Panama:&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;Q: Thưa ông, hình thức offshore company thực chất là gì? Hình thức này đem lại lợi ích gì mà thu hút được lượng khách hàng lớn đến vậy, có cả những cái tên quyền lực nhất thế giới?&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;A:&lt;/b&gt; Offshore company như tên gọi của nó nghĩa là một công ty được thành lập bên ngoài lãnh thổ của chủ sở hữu. Ví dụ khi HAGL sang Lào kinh doanh công ty này có thể mở một offshore company là một công ty đang ký theo luật của nước sở tại để giao dịch và quản lý các hoạt động kinh doanh ở đây. Trong vụ PP offshore company phải hiểu là shell company, nghĩa là một công ty (ở nước ngoài) được lập ra để đại diện cho quyền lợi và/hoặc hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp/cá nhân ở một quốc gia khác. Một số lý do chính doanh nghiệp/cá nhân mở shell company:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
- Tránh thuế&lt;br /&gt;
- Trốn thuế&lt;br /&gt;
- Rửa tiền&lt;br /&gt;
- Che giấu tài sản với người thân, giới báo chí, chính quyền&lt;br /&gt;
- Lách cấm vận&lt;br /&gt;
- Tránh các qui định/quản lý/pháp lý phức tạp/đắt đỏ ở nơi họ sinh sống/hoạt động&lt;br /&gt;
- Tránh rủi ro mất/bị kiện tụng/bị tịch thu tài sản ở nơi họ sinh sống/hoạt động&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngoại trừ trốn thuế, rửa tiền, lách cấm vận, các lý do khác nhìn chung hợp pháp và rất có lợi cho những doanh nghiệp/cá nhân sinh sống/hoạt động ở những nước có thuế suất cao và nhiều qui định/luật pháp khó khăn liên quan đến tài sản. Ví dụ luật thừa kế của Pháp ràng buộc người để lại tài sản rất nhiều qui định mà có thể trái với nguyện vọng của ông/bà ta. Do đó một cá nhân giàu có ở nước này có thể chuyển tài sản ra một offshore/shell company để có thể tự do di chúc lại cho bất kỳ ai mà ít khả năng bị kiện tụng. Một ví dụ khác là một hedge fund có trụ sở ở Mỹ và mở quĩ theo luật Mỹ họ sẽ phải kiểm tra xem nhà đầu tư có thuộc diện được phép đầu tư vào hedge fund hay không (accredited investor), nếu không kiểm tra kỹ họ sẽ bị liên đới khi cơ quan pháp luật phát hiện ra. Ngoài ra nhiều nước qui định quĩ phải kiểm tra nguồn tiền đầu tư có sạch không, một việc rất khó và rất tốn kém. Do đó mở quĩ dưới hình thức offshore company sẽ tránh được các qui định phức tạp này, nhà đầu tư sẽ phải tự chịu tránh nhiệm với chính quyền nước mình còn người quản lý quĩ không bị liên đới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy nhiên phải thừa nhận lý do tránh/trốn thuế và che giấu tài sản là rất phổ biến, nhất là với offshore/shell company cho các cá nhân giầu có. Đây là một vùng xám, nhiều khả năng động cơ của họ không trong sáng nhưng khó đánh giá mức độ đúng sai theo pháp luật (trừ hành vi trốn thuế). Ví dụ một người di chúc lại một khối tài sản lớn cho con, nếu ở Mỹ người con có thể sẽ bị đánh thuế lên đến hàng chục phần trăm số tài sản thừa hưởng đó. Khi tài sản để ở một offshore company và việc chuyển giao tài sản thực hiện dưới hình thức bán công ty (như vụ thủ tướng Iceland bán một offshore company của mình cho vợ với giá $1) thì đánh giá hành vi này có phạm pháp hay không rất khó, chưa kể rất khó phát hiện ra.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một ví dụ khác là một triệu phú mua một chiếc du thuyền đắt tiền sử dụng. Nếu ông/bà ta đem về nước đứng tên có thể sẽ phải đóng thuế tiêu thụ đặc biệt rất cao. Do đó ông/bà ta có thể mở một offshore company đứng ra mua du thuyền đó rồi cho chính mình thuê/mượn lại. Khó có thể đánh giá số tiền thuế giới nhà giầu tránh/trốn thông qua offshore company là bao nhiêu, nhưng chắc chắn phải rất lớn để họ (hoặc những người quản lý tài sản cho họ) sử dụng hình thức offshore company. Nhìn chung dân thường ở các nước &quot;dị ứng&quot; với dạng shell/offshore company như vậy vì nó có lợi cho giới nhà giầu vốn dĩ đã có quá nhiều đặc lợi trong xã hội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;Q: Theo danh sách mới nhất, Việt Nam có 189 người có tên trong Hồ sơ Panama do Hiệp hội Các nhà báo Điều tra Quốc tế (ICIJ) công bố, ông bình luận gì về điều này? Theo ông, họ có vi phạm pháp luật hay không? &amp;nbsp;Hành động mở offshore/shell company ở nước ngoài để quản lý tài sản có bị cấm không và tình trạng này trên thế giới diễn ra với mức độ như thế nào?&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;A:&lt;/b&gt; Trước hết cần làm rõ lại con số 189 mà nhiều báo chí VN cho rằng là số người VN có liên quan đến offshore company bị tiết lộ qua PP. Điều này không hoàn toàn chính xác, thực ra đây là số người và pháp nhân có địa chỉ thường trú tại VN ở thời điểm họ mở offshore company. Bỏ qua một số pháp nhân (vd SGL Capital hay Fired Earth Ltd), một số lớn cá nhân trong danh sách này có lẽ là các doanh nhân nước ngoài (không phải công dân VN) đã/đang làm ăn ở VN. Việc họ mở công ty ở một quốc gia nào đó rồi đem tiền vào VN đầu tư hoàn toàn không liên quan gì đến VN về khía cạnh họ có vi phạm luật pháp VN hay không. Ngược lại trong số những công dân VN có thể có một số người đang làm việc ở nước ngoài (expat) và việc họ có liên quan đến một offshore company nào đó cũng không thuộc thẩm quyền luật pháp của VN.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một chi tiết nữa nhiều báo chí VN nhầm lẫn là con số 189 trong database của ICIJ được tổng hợp từ hai vụ leaks, vụ PP vừa rồi và một vụ năm 2013 được ICIJ gọi là Offshore Leaks (tôi đã có lần đề cập đến). Nếu chỉ xét danh sách từ PP thì VN có 99 cái tên được liệt kê chứ không phải 189. Nhưng tất nhiên con số này sẽ tăng lên vì ICIJ sẽ tiếp tục cập nhật database khi họ có thêm các nguồn tin khác (leaks) trong tương lai. Cũng cần lưu ý là ICIJ chỉ cung cấp một số thông tin cơ bản trên database mà ai cũng có thể download về nghiên cứu, nhiều thông tin nhạy cảm khác (vd số tài khoản ngân hàng, nội dung email trao đổi...) họ không công bố.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Quay lai danh sách 189 cái tên liên quan đến VN có trong database hiện tại của ICIJ. Thực ra nếu chỉ xét về số lượng thì VN có ít hơn nhiều so với các nước khác trong khu vực, vd TQ có 33290, Thailand 1413, Indonesia 3544, Philippines 883, thậm chí Lào cũng có 56 và Cambodia 30 cái tên. Tuy nhiên như đã nói bên trên hầu hết các nước không cấm việc mở offshore/shell company và VN cũng không có luật nào cấm, bởi vậy không thể nói các công dân VN có tên trong danh sách trên là phạm pháp. Điều cần quan tâm là những người mở công ty kiểu này có sử dụng chúng cho những hoạt động phạm pháp như trốn thuế hay rửa tiền hay không, tương tự như sở hữu xe hơi không phạm pháp nhưng chủ sở hữu có thể dùng nó để buôn lậu là một hoạt động phạm pháp. Bởi vậy để đánh giá mức độ phạm pháp phải điều tra cụ thể hoạt động của những công ty offshore/shell và những người liên quan chứ không thể nhận định chung chung.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Việc đầu tiên là rà soát xem trong số 189 cá nhân/pháp nhân này có ai che giấu việc sở hữu hoặc có liên quan đến những công ty đó hay không khi bị buộc phải công khai điều này, ví dụ khi phải kê khai tài sản/chức vụ trong sơ yếu lý lịch hay phải công bố các doanh nghiệp con trong báo cáo tài chính. Thủ tướng Iceland phải từ chức vì khi là nghị sĩ ông ta đã không công khai mình sở hữu một offshore company trong khi luật pháp nước này buộc các nghị sĩ phải làm điều này. Ngược lại thủ tướng Úc không bị cáo buộc phạm pháp dù có tên trong một công ty offshore khác vì ở thời điểm đó ông ta chưa tham gia quốc hội mà là giám đốc của một quĩ đầu tư. Tôi biết nhiều quĩ đầu tư lớn ở VN huy động vốn từ bên ngoài thông qua các offshore company, đa số họ công khai điều này trong các bản cáo bạch hay trên website nên họ không làm gì phạm pháp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngoài ra cần xác định các offshore company mà 189 cá nhân/pháp nhân nói trên có liên quan rồi loại bỏ những company đã không còn &quot;Active&quot; (có thể điều tra điều này trực tiếp trên website của ICIJ). Một điểm rất quan trọng cần lưu ý là quan hệ giữa 189 cá nhân/pháp nhân trong danh sách ICIJ với offshore company mà họ có liên quan. Thông thường nếu một cá nhân chỉ là thành viên hội đồng quản trị (director) của một offshore company, ví dụ trường hợp của bà Đàm Bích Thủy chỉ là một trong số 10 directors của ANZ/V-Track International Leasing, thì đây là một mối liên hệ yếu và ít khả năng cá nhân đó có những hoạt động phạm pháp như trốn thuế hay rửa tiền. Ngược lại nếu một cá nhân là cổ đông (shareholder) hay người được hưởng lợi (beneficiary), và trong đa số trường hợp đồng thời là director, thì đó là mối liên hệ mạnh cần phải điều tra sâu thêm. Ít nhất cơ quan thuế có thể yêu cầu các cá nhân/pháp nhân đó báo cáo những quyền lợi nhận được từ offshore company mà họ có liên quan (tất nhiên với điều kiện người đó nằm trong phạm vi điều phối pháp luật (jurisdiction) của VN).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tóm lại quả bóng đang nằm trong chân cơ quan thuế VN. Một số cơ quan thuế của các nước (Úc, Mỹ, Anh...) đã xúc tiến điều tra. Ngoài việc điều tra trực tiếp các cá nhân/pháp nhân có tên trong database này, các quốc gia có hiệp ước hỗ trợ tư pháp với Panama và các &quot;thiên đường thuế&quot; nơi các offshore company đăng ký có thể yêu cầu cơ quan tư pháp của những nước này hỗ trợ. Một nguồn thông tin rất quan trọng nữa là phần &quot;chìm&quot; của PP và Offshore Leaks mà ICIJ chưa công bố. Chính phủ và các nhà báo VN có thể tiếp xúc với tổ chức này xin được hợp tác/trợ giúp thông tin. Sau khi đã khoanh vùng được những nghi ngờ về trốn thuế hay rửa tiền, bước cuối cùng và khó khăn nhất là yêu cầu các ngân hàng quản lý tài khoản cho các công ty offshore cung cấp thông tin transactions. Tất nhiên ở thời điểm hiện tại chưa thể khẳng định được điều gì, nhưng nếu không điều tra VN sẽ không bao giờ biết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;Q &amp;nbsp;Thưa ông, nếu Mossack Fonseca bị bắt, cụ thể là nếu trong trường hợp xấu nhất, Hoa Kỳ đưa đưa công ty này ra trước pháp luật, công ty này sẽ sụp đổ. Điều đó sẽ gây ảnh hưởng thế nào đến những khách hàng của họ? Theo ông, những cái tên Việt Nam có trong danh sách đó sẽ ảnh hưởng như thế nào?&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;A:&lt;/b&gt; Cho đến giờ này vẫn chưa thấy Mỹ hay một quốc gia nào khác tìm cách qui trách nhiệm (hình sự) cho MF vì hành vi trợ giúp trốn thuế, rửa tiền hay lách cấm vận. Có thể vì những thông tin trong PP được ICIJ công bố chưa đủ vững để có thể khởi tố lãnh đạo hoặc nhân viên MF. Tuy nhiên vẫn còn khá sớm để đánh giá khả năng này vì bản thân ICIJ cũng phải mất nhiều thời gian nữa để đọc và phân tích kỹ hơn 11.5 triệu tài liệu. Các cơ quan công tố các quốc gia liên quan dù đã yêu cầu ICIJ cung cấp thêm thông tin cũng cần thời gian để tìm đủ chứng cứ mới có thể khởi tố. Trong trường hơp xấu nhất MF bị khởi tố rồi truy tố thì hậu quả đầu tiên là sẽ có thêm nhiều thông tin bí mật bị tiết lộ, không chỉ từ nội bộ MF mà cả các pháp nhân liên quan như ngân hàng, kế toán, kiểm toán.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Với những trường hợp một cá nhân/pháp nhân chỉ thuê MF làm dịch vụ thành lập offshore company (và/hoặc mở offshore account) sẽ hầu như không bị ảnh hưởng vì quan hệ giữa họ với MF nhiều khả năng đã chấm dứt. Nhưng một số lớn offshore company mở ra để che giấu tài sản và/hoặc thu nhập thì người chủ thực sự của công ty đó thường sẽ thuê MF đứng ra làm bình phong và quản lý công ty cho họ. Do đó sự đổ vỡ của MF sẽ không chỉ phơi bầy những tài sản ngầm đó mà còn gây khó khăn cho những người chủ thực sự muốn dịch chuyển tài sản/thu nhập của mình sang những nơi trú ẩn khác. Thậm chí nếu tài sản được chuyển đi các offshore company khác trước khi MF bị các cơ quan công tố khởi tố, địa điểm cất giấu mới vẫn có thể bị truy ra.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tóm lại nếu offshore company được mở ra với mục đích dễ dàng kinh doanh thì ảnh hưởng nếu MF bị truy tố không có gì đáng kể. Ngược lại nếu đó là chỗ che giấu tiền bẩn và/hoặc để trốn thuế thì những người chủ đằng sau các offshore company đó phải cầu mong cho MF &quot;tai qua nạn khỏi&quot;.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;Q: Một số nhân vật là người Việt có tên trong danh sách đã lên tiếng khẳng định sự vô tội trước pháp luật của họ, theo ông, nếu không phạm tội trốn thuế thì hành vi này có được xem là lách thuế hay không? Cơ quan quản lý cần làm gì để khắc phục điều này?&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;A:&lt;/b&gt; Như tôi đã nói bên trên việc mở offshore company hoàn toàn có thể cho mục đích kinh doanh đàng hoàng, tôi tin nhiều người trong danh sách 189 cái tên trong database ICIJ thuộc loại này. Tuy nhiên có thể nói không ít offshore company được mở ra với mục đích che giấu tài sản và/hoặc trốn thuế/né thuế. Offshore company là một công cụ khá hữu hiệu cho những mục đích này với chi phí rẻ, thủ tục đơn giản và đặc biệt là hệ thống pháp luật của các tax haven rất thuận lợi cho mục đích này. Không chỉ VN mà ngay cả những nước có hệ thống thực thi pháp luật mạnh cũng rất đau đầu vì không dễ gì tiếp cận được thông tin của các offshore company ở các tax haven, trừ khi có những vụ leaks như PP vừa rồi hay Offshore Leaks mấy năm trước.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rửa tiền, trốn thuế, chuyển giá rõ ràng là phạm pháp, nhưng ngay cả hành vi né thuế tuy không phạm pháp nhưng cũng bị lên án ở nhiều nước. Không phải ngẫu nhiên mà rất nhiều nhân vật giầu có, quyền lực ở các nước bị chỉ trích vì mức thuế trung bình mà họ đóng trên tổng thu nhập thấp hơn nhiều mức thuế bình quân của những người lao động bình thường. Việc người giầu né thuế qua các offshore company chỉ vì họ có khả năng làm như vậy không đúng xét cả về mặt đạo đức và công bằng. Nhiều nhà kinh tế, như 300 người vừa ký tên vào một bức thư ngỏ do Thomas Piketty khởi xướng, cho rằng offshore company và tax haven là những nguyên nhân quan trọng làm gia tăng khoảng cách giầu nghèo trên thế giới. Về mặt vĩ mô với những nước nghèo như VN, cất giấu tài sản ở các tax heven còn làm giảm national saving, ảnh hưởng tới đầu tư và cán cân thương mại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tất nhiên nhà nước cần phải gia tăng kiểm soát để chống lại những hành vi phạm pháp (rửa tiền, trốn thuế, chuyển giá), nhưng với khoảng xám &quot;né thuế&quot; dựa vào offshore company cấm đoán không phải là điều nên làm. Thứ nhất cấm đoán một hành vi không phạm luật, dù nó có thể xấu về mặt đạo đức và công bằng, là một chính sách vi hiến. Thứ hai nó không hiệu quả vì rất khó enforce và giới nhà giầu sẽ chuyển sang một hình thức né thuế khác. Hầu hết những người đủ giầu để có nhu cầu mở offshore company hòng né thuế có thể dễ dàng chuyển sang định cư ở một quốc gia khác thoát khỏi luật cấm nếu nó ra đời. Thứ ba cấm đoán người Việt mở offshore company sẽ ảnh hưởng đến những hoạt động hợp pháp và có lợi cho nền kinh tế như đã nói ở trên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vậy giải pháp cho vấn đề né thuế là gì? Trước hết chính phủ cần cải tổ hệ thống thuế để nó minh bạch và công bằng, xem xét lại các mức thuế suất cho hợp lý chứ đừng có quan điểm tận thu. Quan trọng hơn chính phủ phải chứng minh cho người đóng thuế thấy rằng đồng tiền thuế mà họ đóng góp được chi tiêu đúng chỗ và hiệu quả. Hãy để những người có tiền hiểu đóng thuế đầy đủ giúp xây dựng một xã hội công bằng và phát triển, sẽ tạo ra nhiều cơ hội đầu tư hơn và lợi nhuận về lâu dài sẽ vượt xa số tiền thuế mà họ né được thông qua các offshore company. Một điểm nữa là nhà nước cần khuyến khích và tạo điều kiện cho một nền báo chi tự do và độc lập vì đây là một công cụ vô cùng hữu hiệu lật tẩy những người trốn thuế, né thuế. Hãy nhớ rằng toàn bộ câu chuyện offshore company này chỉ được xã hội biết đề nhờ ICIJ, một hiệp hội nhà báo độc lập.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;</description><link>http://kinhtetaichinh.blogspot.com/2016/06/panama-papers_34.html</link><author>noreply@blogger.com (Anonymous)</author><thr:total>1</thr:total></item><item><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4568422884507290858.post-2992742470437315752</guid><pubDate>Wed, 14 Oct 2015 13:33:00 +0000</pubDate><atom:updated>2015-10-14T23:33:22.777+10:00</atom:updated><title>AIDS</title><description>&lt;br /&gt;
AIDS ở đây không phải là &quot;căn bệnh thế kỷ&quot; mà là Almost Ideal Demand System, một hệ phương trình biểu diễn những hàm demand các loại hàng hoá khác nhau trong một nền kinh tế. Đây là một công trình của Angus Deaton, nhà kinh tế vừa được trao &lt;a href=&quot;http://www.nobelprize.org/nobel_prizes/economic-sciences/laureates/2015/&quot;&gt;giải Nobel&lt;/a&gt;, (viết cùng John Muellbauer) công bố năm 1980. Bài báo này được đăng trên tạp chí American Economic Review, một trong những tạp chí uy tín nhất trong ngành kinh tế học, và được chính AER chọn là một trong &lt;a href=&quot;http://kinhtetaichinh.blogspot.com.au/2011/02/aer-top-20.html&quot;&gt;20 bài báo quan trọng nhất&lt;/a&gt; trong lịch sử 100 năm của họ. Bài viết này sẽ giới thiệu sơ lược công trình của Deaton trong tổng thể lý thuyết về demand system, về cơ bản là tóm tắt một bài &lt;a href=&quot;https://www.scribd.com/doc/284751494/Consumption-System-Review&quot;&gt;literature review&lt;/a&gt; tôi viết năm 2003 khi đang là sinh viên (bạn có thể đọc tài liệu embedded bên dưới hoặc download pdf về đọc). Đây không phải lĩnh vực của tôi, lúc đó tôi viết bài này vì đang làm research assistant cho 2 giáo sư trong trường. Bởi vậy dù đã tìm hiểu khá kỹ nhưng bài review vẫn có thể có những sai sót, bạn nào quan tâm nên tìm đọc các bài báo gốc trong reference list.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trước hết cần nhắc lại cung và cầu là hai khái niệm căn bản của kinh tế học có từ thời Adam Smith. Sau cuộc Cách mạng Cận biên (Marginal Revolution) vào cuối thế kỷ 19, các nhà kinh tế học bắt đầu xây dựng lý thuyết cung cầu dựa vào các mô hình toán. Cụ thể, hàm cầu là kết quả của bài toán tối ưu utility của người tiêu dùng. Tuỳ thuộc vào dạng hàm utility chúng ta có thể giải bài toán này để tìm ra hàm cầu và ước lượng các tham số của nó dựa vào số liệu quan sát được. Lưu ý utility là một khái niệm trừu tượng do các nhà kinh tế đưa ra để xây dựng lý thuyết. Không ai đo lường được giá trị utility trên thực tế nên muốn kiểm chứng lý thuyết phải đi vòng qua &quot;reduced form&quot; của lý thuyết đó mà trong trường hợp này là demand function.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Điểm thứ hai cần nhắc lại là demand function có thể xem xét/ước lượng trong hai trường hợp: partial và general equilibrium. Ở trường hợp thứ nhất chúng ta chỉ cần xét riêng rẽ một thị trường nhất định và xác định quan hệ giữa giá (P) và số lượng (Q) của một loại hàng hoá. Hầu hết các nghiên cứu về hàm cầu theo hướng này (trong các ngành business, marketing) không đặt nặng vấn đề hàm cầu phải là hệ quả của utility maximisation. Trường hợp thứ hai hàm cầu của một loại hàng hoá (i) phụ thuộc không chỉ vào giá P(i) của loại hàng hoá đó mà còn phụ thuộc vào giá P(j) của các hàng hoá khác mà người tiêu dùng mua khi họ có một mức thu nhập I nhất định (budget constraint). Vì demand cho tất cả các loại hàng hoá phụ thuộc lẫn nhau nên các nhà kinh tế tìm cách xác định/ước lượng tất cả các hàm demand đồng thời trong một hệ phương trình, bởi vậy gọi là demand system.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như đã đề cập bên trên, demand system là lời giải cho bài toán utility maximisation trong một general equilibrium nên nó sẽ có một số tính chất giới hạn (restriction) nhất định. Ví dụ tổng chi tiêu cho các loại hàng hoá phải bằng thu nhập (Walras law) hay nếu tất cả các loại giá và thu nhập cùng tăng với tỷ lệ như nhau thì cầu cho từng loại hàng hoá không đổi (homogenous degree of zero in all prices and income). Xây dựng một dạng hàm phù hợp với số liệu thực tế đồng thời đảm bảo các giới hạn này không hề đơn giản. Những dạng hàm sơ khai như LES, PIGL/PIGLOG, hay Rotterdam đáp ứng được phần nào nhưng có rất nhiều hạn chế. Cụ thể chúng chỉ phù hợp khi hàng hoá được phân loại thành những nhóm lớn, ví dụ nhà ở, lương thực, giải trí..., chứ khó ước lượng cho những phân loại chi tiết hơn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào đầu những năm 1970s một hướng nghiên cứu demand system mới phát triển từ dạng hàm PIGLOG trước đó. Ý tưởng chính của hướng nghiên cứu này là thay vì xác định một dạng hàng utility rồi giải ra hàm demand, các nhà kinh tế đưa ra một dạng hàm demand trực tiếp rất flexible để có khả năng là lời giải của một hàm utility bất kỳ. Tất nhiên về mặt lý thuyết thì điều này không thể nhưng nếu chỉ cần gần đúng thì bất kỳ một dạng hàm nào cũng có thể triển khai thành một chuỗi Taylor. Sử dụng Taylor expansion bậc hai hai nhóm demand function được đề xuất là Translog và AIDS. Mặc dù Translog tổng quát hơn nhưng AIDS có nhiều ưu điểm vượt trội nên sau này đã phổ biến hơn và có nhiều biến thể. Một trong những ưu điểm quan trọng nhất là nó có thể giản lược thành một hệ tuyến tính (linear) rất dễ ước lượng (những năm 70-80 chưa có PC và những phần mềm econometrics mạnh như bây giờ).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những dạng hàm flexible form như Translog và AIDS (và các extension của nó) giúp các nhà kinh tế kiểm chứng consumer theory (với utility maximisation) thông qua số liệu tiêu dùng của các hộ gia đình. Một số cải biến cho AIDS để đưa các đặc tính demography vào demand system có nhiều ứng dụng thực tế trong việc giúp hoạch định chính sách. Ví dụ ảnh hưởng của một sắc thuế hoặc một loại trợ giá vào welfare của các hộ gia đình (với các mức thu nhập khác nhau) như thế nào. Hay như hai giáo sư mà tôi làm assistant đã đánh giá tác động của sự thay đổi cấu trúc dân số TQ vào demand của các loại lương thực của nước này. Sau khi viết bài review tôi cũng có ý định sẽ lấy số liệu VHLSS của VN để thử ước lượng một demand system nhưng rồi bận với luận án và những vấn đề cuộc sống khác nên đành bỏ dở. Nhân Angus Deaton được giải Nobel chợt nhớ đến lĩnh vực này, một dạng nostalgic lại thời sinh viên. Thôi hi vọng bài giới thiệu này làm một/vài bạn sinh viên nào đó hứng thú và sẽ đi xa hơn tôi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;div nbsp=&quot;&quot; style=&quot;-x-system-font: none; display: block; font-family: Helvetica,Arial,Sans-serif; font-size-adjust: none; font-size: 14px; font-stretch: normal; font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; line-height: normal; margin: 12px auto 6px auto;&quot;&gt;
 &amp;nbsp; &lt;a href=&quot;https://www.scribd.com/doc/284751494/Consumption-System-Review&quot; nbsp=&quot;&quot; style=&quot;text-decoration: underline;&quot; title=&quot;View Consumption System on Scribd&quot;&gt;Consumption System&lt;/a&gt; &lt;/div&gt;
&lt;iframe class=&quot;scribd_iframe_embed&quot; data-aspect-ratio=&quot;0.7068965517241379&quot; data-auto-height=&quot;false&quot; frameborder=&quot;0&quot; height=&quot;600&quot; id=&quot;doc_63118&quot; scrolling=&quot;no&quot; src=&quot;https://www.scribd.com/embeds/284751494/content?start_page=1&amp;amp;view_mode=scroll&amp;amp;access_key=key-bNo9hy9EL8ooDy7OLcJi&amp;amp;show_recommendations=true&quot; width=&quot;100%&quot;&gt;&lt;/iframe&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;</description><link>http://kinhtetaichinh.blogspot.com/2015/10/aids.html</link><author>noreply@blogger.com (Anonymous)</author><thr:total>5</thr:total></item><item><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4568422884507290858.post-5394523863199823781</guid><pubDate>Sat, 29 Aug 2015 12:30:00 +0000</pubDate><atom:updated>2015-08-29T22:36:50.099+10:00</atom:updated><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">FX</category><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">Macro</category><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">REER</category><title>NEER/REER Update</title><description>&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: left;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: left;&quot;&gt;
Tôi vừa update đồ thị NEER/REER cho VND đến tháng 7/2015. NEER là trade-weighted nominal exchange rate với Top-10 trading partners: CNY/USD/JPY/EUR/KRW/THB/SGD/MYR/AUD/INR. Top 10 này được xác định bằng trung bình trade share trong 5 năm gần nhất (số liệu đến tháng 3/2015), chiếm khoảng 74% tổng doanh số XNK của VN. REER được hiệu chỉnh bằng CPI theo tháng.&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: left;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: left;&quot;&gt;
Cả NEER và REER lấy điểm gốc vào tháng 12/1999, giá trị trên đồ thị tăng tương đương với VND lên giá (appreciation). Như vậy trong 15 năm qua NEER mất giá khoảng 60% nhưng REER tăng gần 50%, nghĩa là hàng hóa sản xuất trong nước trung bình so với hàng của Top-10 trading partners mất gần 50% sức cạnh tranh (cả trong nước lẫn xuất khẩu) nếu chỉ tính ảnh hưởng của tỷ giá thực.&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: left;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: left;&quot;&gt;
Thống đốc Nguyễn Văn Bình là người có &quot;thành tích&quot; giữ ổn định NEER nhất trong số 3 đời thống đốc gần đây. Tuy nhiên ông cũng là người điều hành NHNN trong giai đoạn có REER tăng mạnh nhất (nếu tôi nhớ không nhầm chưa bao giờ ông Bình hay một quan chức NHNN nào đề cập đến vấn đề này). Từ giờ đến cuối năm 2015 nhiều khả năng REER sẽ tiếp tục tăng vì NHNN đã khẳng định sẽ không phá giá (danh nghĩa) VND nữa, mà CPI của VN chắc chắn cao hơn CPI của Top-10 partners liệt kê bên trên. Tôi nghĩ nhìn tốc độ REER tăng nhanh như vậy các thống đốc ngân hàng trung ương khác chắc phải mất ăn mất ngủ.&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: left;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: left;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: center;&quot;&gt;
&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiF5BCAfZvKdDw5R_MWPO-WjtljUQ4sJRr08suxJ8dgF4vakQmx1SS9Jx4GrrIC1lscSjtkLuwNMZU0yGo2GOKB-bJud60K8VBmmMo_6sAsGQpenwV8ofhBHeJQSrUiWY1vrmQAfxq3RQI/s1600/REER.JPG&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: 1em; margin-right: 1em;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; height=&quot;280&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiF5BCAfZvKdDw5R_MWPO-WjtljUQ4sJRr08suxJ8dgF4vakQmx1SS9Jx4GrrIC1lscSjtkLuwNMZU0yGo2GOKB-bJud60K8VBmmMo_6sAsGQpenwV8ofhBHeJQSrUiWY1vrmQAfxq3RQI/s400/REER.JPG&quot; width=&quot;400&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: center;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: center;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: center;&quot;&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;div&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
</description><link>http://kinhtetaichinh.blogspot.com/2015/08/neerreer-update.html</link><author>noreply@blogger.com (Anonymous)</author><media:thumbnail xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" url="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiF5BCAfZvKdDw5R_MWPO-WjtljUQ4sJRr08suxJ8dgF4vakQmx1SS9Jx4GrrIC1lscSjtkLuwNMZU0yGo2GOKB-bJud60K8VBmmMo_6sAsGQpenwV8ofhBHeJQSrUiWY1vrmQAfxq3RQI/s72-c/REER.JPG" height="72" width="72"/><thr:total>22</thr:total></item><item><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4568422884507290858.post-8597615066798531030</guid><pubDate>Tue, 21 Apr 2015 13:15:00 +0000</pubDate><atom:updated>2015-04-21T23:15:19.008+10:00</atom:updated><title>Tet &amp; GDP (II)</title><description>&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;i&gt;Bài này sẽ giải thích thêm một số vấn đề về GDP nhân vụ một số thành viên chính phủ &lt;a href=&quot;http://m.vietnamnet.vn/vn/kinh-te/229503/bo-truong-choang--thong-doc-giat-minh--pho-thu-tuong-bat-ngo.html&quot;&gt;choáng/giật mình/bất ngờ&lt;/a&gt; vì GDP Q1 tăng 6.03%. Thực ra vụ này không liên quan lắm đến chủ đề ảnh hưởng của Tết vào GDP nhưng vì có bạn hỏi liệu con số tăng trưởng rất tốt đó có phủ nhận lập luận của tôi trong entry trước hay không nên tôi viết thành &quot;tập 2&quot; cho chủ đề Tết vs GDP. Bài này cũng có thể coi là &quot;tập 2&quot; của bài về &lt;a href=&quot;http://kinhtetaichinh.blogspot.com.au/2013/12/official-statistics.html&quot;&gt;thống kê quốc gia&lt;/a&gt;.&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;Một số khái niệm cơ bản&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trước hết cần phân biệt giá trị với tốc độ tăng GDP. Báo chí khi nói đến GDP hầu như chỉ quan tâm đến tốc độ tăng trưởng bao nhiêu % chứ không mấy khi nói đến GDP của quí này bao nhiêu nghìn tỷ. Ngay cả giới kinh tế (cả hàn lâm lẫn trên thị trường)&amp;nbsp;cũng vậy, hỏi GDP của VN Q1 2015 là bao nhiêu ít người biết chính xác. Điều này có lý do của nó vì giá trị của GDP khi được thống kê bao gồm cả yếu tố lạm phát nên cơ quan thống kê phải bóc tách ảnh hưởng của lạm phát ra để có một con số phản ánh chính xác hơn sức khỏe của nền kinh tế thực. Thông thường giá trị của GDP sẽ được hiệu chỉnh theo mức giá của một năm gốc, hiện tại năm gốc mà TCTK sử dụng là 2010 (trước Q1 2013 năm gốc là 1994). Do đó con số giá trị GDP đã được hiệu chỉnh có ít ý nghĩa thực tế và khó hiểu với công chúng. Nói GDP Q1 của VN là 534.6 nghìn tỷ theo giá 2010 có thể sẽ gây hiểu nhầm vì thực ra tổng giá trị sản lượng quốc gia trong GDP Q1 ở thời điểm hiện tại là 808.9 nghìn tỷ. Bởi vậy thay vì nói về giá trị bao nhiêu nghìn tỷ, khái niệm tốc độ tăng GDP dễ hiểu và phổ biến hơn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy nhiên trong khi giá trị GDP (trong một chu kỳ thống kê nào đó, vd quí hay năm) là một con số duy nhất thì tốc độ tăng GDP phụ thuộc vào thời điểm so sánh (reference period). Con số phổ biến nhất là tốc độ tăng GDP hàng năm, nghĩa là lấy giá trị GDP của năm nay so với giá trị GDP của năm trước đó, cả hai con số này đều được hiệu chỉnh theo giá của năm gốc (vd năm 2010). Nhưng do GDP là một con số thống kê rất quan trọng nên hầu hết các nước đều thống kê và công bố GDP hàng quí. Tốc độ tăng trưởng (hay sụt giảm) GDP được công bố hàng quí thường là so sánh giá trị GDP của quí này với GDP của quí ngay trước đó. Con số tăng trưởng này gọi là quarter-on-quarter (qoq) và thường được qui đổi tương đương với tốc độ tăng trưởng theo năm bằng cách nhân với 4 (vì 1 năm có 4 quí). Ví dụ nếu GDP Q1 bằng 100 tỷ, Q2 bằng 101 tỷ thì annualized qoq growth rate (mà nhiều khi báo chí gọi tắt là qoq growth) bằng (101/100-1)*4=4% (thông lệ không sử dụng compound).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì số liệu quí hay bị tác động mùa vụ nên hầu hết thống kê GDP của các nước đều được hiệu chỉnh mùa vụ cho cả giá trị lẫn tốc độ tăng. Ví dụ khi báo chí đưa tin GDP Q4 2014 của Mỹ là 2.4% thì phải hiểu đó là tốc độ tăng của GDP trong Q4 so với GDP Q3 sau khi được hiệu chỉnh yếu tố mùa vụ và qui đổi thành tốc độ tăng trưởng năm. Giới tài chính có thể ghi chú bên cạnh con số này thêm ký hiệu &quot;saar&quot; (seasonally adjusted annualized rate) để tránh nhầm lẫn. Ở VN, như tôi đã nêu ra trong bài trước số liệu thống kê không/chưa được hiệu chỉnh yếu tố mùa vụ, bởi vậy giá trị lẫn tốc độ tăng trưởng qoq có biến động rất lớn. Ví dụ GDP Q1 2015 (theo giá hiện hành) là 808.9 nghìn tỷ VND giảm 36% so với GDP Q4 2015 là 1264.9 nghìn tỷ. Vì tốc độ giảm lớn như vậy nên không thể/không nên annualized (nhân với 4). Rõ ràng Tết ta vẫn có tác động rất lớn lên GDP Q1 2015.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Con số tăng trưởng thứ hai cho GDP theo quí có reference period là quí tương đương năm trước, vd so sánh Q1 2015 với Q1 2014. Giới tài chính sử dụng thuật ngữ year-on-year (hay year-over-year) để chỉ sự so sánh cùng kỳ này. Một điểm cần lưu ý là TCTK sử dụng một thông lệ hơi khác so với quốc tế khi công bố tốc độ tăng trưởng GDP cùng kỳ. Ở VN mỗi quí TCTK công bố giá trị GDP từ đầu năm cho đến cuối quí đó, nghĩa là GDP trong quí 1, trong 6 tháng đầu năm, trong 9 tháng đầu năm, và GDP cho toàn bộ 12 tháng. Thuật ngữ chuyên môn gọi là cumulative GDP, hiện tại ngoài VN tôi chỉ biết có TQ cũng sử dụng hình thức công bố này. Như vậy cứ mỗi cuối quí TCTK công bố tốc độ tăng trưởng GDP so với cùng kỳ năm trước phải hiểu là so với quí 1, với 6 tháng đầu năm, 9 tháng đầu năm, 12 tháng cả năm trước. Trong khi đó hầu hết các nước khi so sánh cùng kỳ sẽ là GDP Q1 năm nay so với Q1 năm trước, Q2 năm nay với Q2 năm trước...&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lợi ích của việc so sánh cùng kỳ này (dù theo cách quốc tế hay cumulative value như của VN và TQ) là loại trừ được yếu tố mùa vụ và không cần annualize (nhân với 4) vì tốc độ tăng cùng kỳ đó luôn giữa một khoảng 12 tháng. Điểm bất lợi của phương pháp này là nó không phản ánh kịp thời những biến động kinh tế mới nhất giữa 2 quí liền kề và con số này còn bị nhiễu bởi các quí nằm giữa 2 kỳ thống kê. Với báo chí và người dân điều này không quá quan trọng, nhưng với giới tài chính và policy makers (ở các nước) thì khó có thể chấp nhận nên tốc độ tăng trưởng cùng kỳ (yoy) thường chỉ có tính tham khảo cho xu hướng dài hạn chứ ít khi sử dụng cho các chính sách hay chiến lược đầu tư. Ở VN số liệu tăng trưởng qoq không được công bố ngoài lý do TCTK chưa có công cụ hiệu chỉnh mùa vụ phù hợp có thể còn vì ảnh hưởng của Tết ta vào GDP Q1 quá lớn nên sẽ rất bất lợi (về mặt tâm lý) khi công bố GDP Q1 giảm 36%.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tóm lại cần lưu ý là dù cũng là tốc độ tăng trưởng GDP nhưng con số mà TCTK VN công bố hàng quí là yoy (cumulative) trong khi ở hầu hết các nước là qoq (saar).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;Những vấn đề liên quan đến GDP Q1 2015&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như đã giải thích bên trên, con số 6.03% mà TCTK công bố là tăng trưởng GDP Q1 2015 so với cùng kỳ năm 2014, cả hai con số được tính theo giá năm gốc 2010 để loại bỏ yếu tố lạm phát. Một điều thú vị là nếu lấy giá trị GDP của hai quí 1 này, lần lượt là 503.7 nghìn tỷ (2014) và 534.8 nghìn tỷ (2015), để tính tốc độ tăng trưởng thì đúng ra phải là 6.13%. Sự &quot;khiêm tốn&quot; đáng ngạc nhiên này của TCTK có thể có hai lý do. Thứ nhất do cách tính GDP thay đổi nên con số GDP Q1 2014 đã được hiệu chỉnh tăng lên nhưng TCTK không công bố điều này. TCTK đã rập rình về khả năng thay đổi phương pháp tính GDP từ cuối năm ngoái sau khi cả thủ tướng lẫn chủ tịch QH than phiền về chất lượng thống kê. Tôi không biết có phải phương pháp tính đã thay đổi và GDP của các quí gần đây đã được tính lại hay không, rất mong TCTK công khai điều này.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lý do thứ hai là việc chuyển năm gốc từ 1994 thành 2010 cũng có thể ảnh hưởng đến giá trị và tốc độ tăng GDP của các quí trước đó. TCTK chuyển năm gốc vào Q1 2013, nghĩa là về mặt lý thuyết tất cả các thống kê sau thời điểm này không bị ảnh hưởng bởi việc năm gốc thay đổi nữa. Tuy nhiên trên thực tế số liệu thống kê giai đoạn 2012-2014 đã được chỉnh sửa khá nhiều, có lẽ để đảm bảo tính nhất quán giữa hai chuỗi số liệu (trước và sau 2013) có năm gốc khác nhau. Cho đến thời điểm này TCTK chưa công bố chuỗi GDP theo năm gốc 2010 cho giai đoạn trước Q1 2013 nên tôi phải tự nối 2 chuỗi này với giả thiết tốc độ tăng không đổi khi đổi năm gốc. Điều này thực ra không chính xác nhưng không có lựa chọn nào khác nếu muốn nghiên cứu chuỗi (real) GDP dài. Các bạn làm việc liên quan đến GDP qúi của VN nên cẩn thận. Trong bài Tết vs GDP trước tôi sử dụng số liệu nominal GDP và dùng CPI hiệu chỉnh để tránh phải dùng real GDP.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bỏ qua vấn đề con số tăng trưởng cùng kỳ của Q1 2015 là 6.03 hay 6.13%, vì đây là so với Q1 2014 nên ngay cả nếu nó thực sự tốt cũng không có nghĩa Tết ta năm 2015 không có tác động gì. Cả hai kỳ so sánh đều có Tết nên nếu tác động của Tết như nhau chúng đã được loại bỏ. So với quí ngay trước đó (Q4 2014), nominal GDP giảm 36% còn real GDP giảm gần 38%. Tất nhiên nói vậy không có nghĩa tôi phủ nhận con số 6.03 hay 6.13% là một tốc độ tăng rất tốt khi so sánh cùng kỳ. Có điều tôi không choáng/giật mình/bất ngờ như một vài thành viên chính phủ bởi vì tôi biết nền kinh tế đã qua đáy và đang trên đà phục hồi khoảng 1-2 năm lại đây. So sánh cùng kỳ (yoy) không tính cumulative thì Q4 2014 có tăng trưởng 6.78%, Q3 2014 là 6.36%, đều là tăng trưởng cao nhất trong 4 năm gần đây. Như vậy nếu có choáng/giật mình/bất ngờ thì đáng ra các bộ trưởng/thống đốc phải&amp;nbsp;choáng/giật mình/bất ngờ từ tháng 9 hay cùng lắm là tháng 12 năm ngoái chứ không phải đợi đến bây giờ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sự chậm chễ đó sẽ không thành vấn đề nếu tăng trưởng trong những quí tới tiếp tục tăng mạnh. Tuy nhiên đằng sau con số tăng trưởng 6.03% mà nhiều người bất ngờ có hai yếu tố làm tôi không lạc quan về những quí tới và cả năm 2015 như nhiều chuyên gia khác. Yếu tố thứ nhất là nếu nhìn vào tăng trưởng qoq được hiệu chỉnh mùa vụ theo phương pháp của Matthias Mohr mà tôi sử dụng trong bài trước, tăng trưởng GDP qoq của Q1 2015 thấp hơn Q1 2014. Như đã nói bên trên tăng trưởng qoq phản ánh tình trạng kinh tế kịp thời hơn con số yoy nên đây là dấu hiệu xấu. Xét về tổng thể tăng trưởng qoq của cả nominal lẫn real GDP có vẻ đã đạt đỉnh vào giữa năm 2014 và có dấu hiệu suy giảm trong 2 quí gần đây. Tất nhiên một vài quí chựng lại chưa thể kết luận nền kinh tế bắt đầu đi xuống, nhưng chí ít đây là dấu hiệu cảnh báo sự lạc quan về triển vọng kinh tế năm 2015 có thể có rủi ro.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Yếu tố thứ hai là một chỉ số lạm phát suy ra từ tốc độ tăng trưởng giữa nominal và real GDP (implicit price deflator - IPD) cho thấy lạm phát suy giảm rất nhanh từ giữa năm 2014. Lưu ý IDP khác với CPI vì rổ hàng hóa để tính tốc độ trượt giá khác nhau, tuy nhiên chúng cùng phản ánh tình trạng lạm phát trong một nền kinh tế. IPD cho Q1 2015 đã giảm xuống dưới 1%/năm, so với 5.8%/năm vào Q1 2014. Lạm phát giảm có thể do nhiều nguyên nhân, trong đó có thể do tổng cầu yếu - là một điều không tốt cho nền kinh tế. Bên cạnh đó IPD (về cơ bản là chênh lệch giữa nominal và real growth) thấp phản ánh tình trạng real growth cao trong khi nominal growth thấp. Có thể thấy điều này khi so sánh yoy nominal growth: Q1 2015 là 6.92% so với Q1 2014 là 10.66%. Trên thực tế yoy nominal growth của Q1 2015 thấp nhất trong 10 năm qua, ngược hoàn toàn với yoy real growth.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tóm lại có một vài dấu hỏi cho con số yoy của Q1 2015. Ngay cả nếu con số 6.03% chính xác vẫn có lý do để lo ngại triển vọng kinh tế trong thời gian tới. Ngoài ra con số này dù tốt hay không không liên quan gì đến ảnh hưởng của Tết vào GDP. Muốn đánh giá tác động của Tết phải phân tích tăng trưởng qoq chứ không phải yoy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;Thay cho lời kết...&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy sự hoan hỷ của các quan chức chính phủ về con số tăng trưởng 6.03% của Q1 2015 rất có thể quá muộn. Có dấu hiệu cho thấy chính Q1 2015 là turning point, không phải đi lên mà là đi xuống. Ai làm dự báo cũng muốn mình đúng, nhưng quả thật tôi hi vọng nhận định của tôi trong bài này sai. Có thể GDP trong Q1 2015 chỉ bị ảnh hưởng bởi kỳ nghỉ Tết quá dài vừa rồi, mọi thứ rồi sẽ ổn. Có thể góc nhìn này chỉ phân tích GDP tổng thể mà không đi sâu vào từng cấu thành của nó hay bổ sung các chỉ số khác như PMI, IP, export... là phiến diện. Thôi thì cứ hi vọng như vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;</description><link>http://kinhtetaichinh.blogspot.com/2015/04/tet-gdp-ii.html</link><author>noreply@blogger.com (Anonymous)</author><thr:total>4</thr:total></item><item><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4568422884507290858.post-8538945997361506446</guid><pubDate>Tue, 31 Mar 2015 21:35:00 +0000</pubDate><atom:updated>2015-04-01T07:35:42.951+10:00</atom:updated><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">Financial Planning</category><title>Personal Finance</title><description>&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một gia đình trung lưu/khá giả (upper middle class) ở các nước phát triển thường sử dụng bốn dịch vụ có tính chất cá nhân sau: bác sĩ gia đình, luật sư riêng, kế toán cá nhân, và tư vấn tài chính cá nhân (personal financial planner). Về cơ bản personal financial planner là người tư vấn cho khách hàng cá nhân cách thức đầu tư dài hạn để giữ tài sản an toàn và hiệu quả. An toàn nghĩa là giảm thiểu rủi ro mất mát hoặc bị tranh chấp/kiện tụng. Hiệu quả là&amp;nbsp;có&amp;nbsp;lợi tức (sau thuế) và cash-flow tối ưu phù hợp với hoàn cảnh của từng khách hàng. Trước đây tôi đã từng đề cập đến dịch vụ này&lt;a href=&quot;https://plus.google.com/+GiangLe_KinhTeTaiChinh/posts/1rnFcD8D687&quot;&gt; ở đây&lt;/a&gt;, trong đó tôi nhấn mạnh financial planning là cho đầu tư cá nhân dài hạn chứ không phải tư vấn giúp đầu cơ hay lướt sóng kiếm lời ngắn hạn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Việc lên kế hoạch tài chính dài hạn cho cuộc đời là một điều rất quan trọng và cần thiết với đa số chúng ta, nhất là khi truyền thống về già sống dựa vào con cháu đang ngày càng mai một còn hệ thống BHXH/sổ hưu rất mong manh. Trong khi đợi VN có các financial planner chuyên nghiệp, bài viết này sẽ giới thiệu cho các bạn một số nguyên tắc căn bản của personal financial planning. Tất nhiên các thông tin ở đây chỉ để tham khảo, nếu bạn định áp dụng điều gì cho bản thân thì cần cân nhắc kỹ hoàn cảnh (tài chính) cá nhân của mình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;1. Saving&lt;/b&gt;: Nguyên tắc đầu tiên của financial planning là đừng vung tay quá trán, hãy lên kế hoạch tiết kiệm ngay khi có những đồng thu nhập đầu tiên. Chắc ai cũng biết sức mạnh của &lt;a href=&quot;http://www.investopedia.com/walkthrough/corporate-finance/3/discounted-cash-flow/compounding.aspx&quot;&gt;compounding effect&lt;/a&gt;&amp;nbsp;(lãi suất kép, hay nôm na là lãi mẹ đẻ lãi con) nên dù không có kiến thức gì về tài chính chỉ cần đều đặn tiết kiệm thì sau một thời gian dài bạn sẽ có một khoản tiền đáng kể. Tất nhiên ở những nơi có lạm phát cao như VN và/hoặc property right không được đảm bảo (vd có thể bị đổi tiền như những năm 80) thì gửi tiết kiệm tiền mặt có thể không phải là giải pháp tốt. Nhưng để có thể đầu tư vào bất cứ lĩnh vực nào bạn cũng cần có một khoản tiền tiết kiệm ban đầu, trừ trường hợp gia đình bạn có sẵn tiền hay bạn may mắn trúng số. Nhiều quốc gia bắt buộc người dân phải tiết kiệm một mức tối thiểu từ thu nhập như hệ thống provident fund của Singapore/Malaysia, hay superannuation của Úc (pension fund theo nguyên tắc defined contribution). Tiết kiệm càng sớm và càng đều đặn càng tốt.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Với financial planning, nguyên tắc tiết kiệm không chỉ có vậy. Một financial planner có thể sẽ khuyên bạn hai điểm nữa liên quan đến nguyên tắc này. Thứ nhất hãy tập trung thời gian làm công việc mà mình có thể kiếm được nhiều tiền nhất, sau đó trích một phần thu nhập cho saving để compounding effect giúp cho tài sản của mình tăng lên. Trừ những trường hợp ngoại lệ của một số &quot;siêu nhân&quot; làm gì cũng giỏi, đa số chúng ta chỉ có thể làm tốt một chuyên môn của mình. Do đó một bác sĩ nên tập trung thời gian cho việc khám chữa bệnh và nâng cao kiến thức/tay nghề, chứ đừng quá tốn thời gian/công sức vào việc đầu tư cổ phiếu hay những hình thức kiếm tiền tay ngang khác như bán hàng trên mạng. Rất có thể bạn sẽ tiền mất tật mang, thu nhập chính của mình giảm sút vì bị chi phối và phân tâm vào những việc không phải chuyên môn đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thứ hai (chủ yếu dành cho giới professional cao cấp có thu nhập tương đối cao), không những không nên sao lãng chuyên môn chính cho việc kiếm tiền tay ngang, bạn thậm chí còn nên trả tiền để không phải làm những công việc trong nhà hòng có thêm thời gian cho chuyên môn. Một số ví dụ như thuê tài xế riêng, thuê giặt ủi quần áo, dọn dẹp nhà cửa, hay thậm chí thuê người nấu ăn cho mình (personal cook). Điều này thoạt nhìn có vẻ trái với nguyên tắc tiết kiệm, nhưng nếu nó giúp bạn tăng nguồn thu nhập chính vì có thêm thời gian nghỉ ngơi phục hồi và tăng cường sức khoẻ, học hành nâng cao chuyên môn, mở rộng quan hệ xã hội và chuyên ngành, thì về tổng thể tài sản của bạn có thể sẽ tăng nhanh hơn là cứ căn cơ tiết kiệm. Tất nhiên điều này không/chưa áp dụng với nhiều người, nhưng bạn cần nhớ tiết kiệm khác với hà tiện. Nếu cần phải chi điều gì để tăng thu nhập (hiện tại và tương lai) thì bạn nên chi, thời gian là tiền bạc và cái giá của thời gian (opportunity cost) chính là mức thu nhập của bạn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;2. Diversification:&lt;/b&gt;&amp;nbsp;Nguyên tắc thứ hai này tưởng như quá đơn giản và hiển nhiên, tuy nhiên một financial planner giỏi không đơn thuần khuyên bạn không được bỏ hết trứng vào một rọ. Trên thực tế nếu bạn là một kỹ sư tin học mới ra trường đang ấp ủ một ý tưởng startup, financial planner có thể sẽ khuyên bạn bỏ hết tất cả tiền bạn có, thậm chí đi vay thêm người thân và bạn bè để đầu tư vào cái startup đầy rủi ro của bạn. Lý do là khi bạn còn rất trẻ khả năng chịu đựng rủi ro (risk taking ability) của bạn rất cao nên có thể mạo hiểm đầu tư vào những dự án đầy rủi ro như vậy. Tôi sẽ viết kỹ hơn về khả năng risk taking bên dưới, ở đây tôi chỉ nhấn mạnh vào điểm diversification không chỉ có nghĩa phải đầu tư dàn trải ra nhiều loại tài sản (assets) mà còn bao gồm dàn trải trong cuộc đời (lifetime) của bạn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Về asset diversification chắc các bạn đều biết nên đầu tư vào nhiều loại chứng khoán khác nhau, ở các thị trường khác nhau (bằng các đồng tiền khác nhau), đầu tư vào bất động sản và các loại tài sản vật lý khác. Một vấn đề thực tiễn mà lý thuyết tài chính ít nhắc đến là chi phí giao dịch (transaction costs) phải được tính đến khi quyết định mua bao nhiêu loại assets. Trừ khi bạn có một số tài sản lớn, còn đa số trường hợp cách diversification hiệu quả nhất là mua chứng chỉ quĩ (mutual fund, ETF, REIT) nếu thị trường cho phép. Còn ở những nơi chưa có khả năng này như VN, một số nghiên cứu cho rằng đầu tư vào khoảng 10-20 cổ phiếu bluechip là đã tương đương với 60-80% diversification của cả thị trường. Cho nên nếu số tiền đầu tư của bạn còn ít, chưa nhất thiết phải dàn trải ra nhiều loại chứng khoán/tài sản, hãy cố gắng đừng để transaction costs vượt quá 1-2% số tiền đầu tư. Nhưng nhớ cân nhắc khi đầu tư lần tiếp theo khi bạn có thêm tiền, đừng vì cổ phiếu/tài sản lần trước mình mua đã &quot;thắng đậm&quot; mà lại tiếp tục dồn tiền vào đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tất nhiên nếu bạn đầu tư nhiều lần khác nhau trong cuộc đời điều đó cũng tương đương với lifetime diversification. Chu kỳ kinh tế và chu kỳ thị trường có thể biến động rất mạnh cho nên diversification về mặt thời gian sẽ giảm bớt ảnh hưởng của rủi ro mua nhầm thời điểm mà không cần dự báo hay mô hình/kỹ thuật phức tạp gì cả. Cứ lên mục tiêu hàng tháng tiết kiệm một khoản tiền nhỏ cho vào tài khoản, sau 1-2 năm lấy ra đi đầu tư, đừng quá quan tâm đến tình hình thị trường lúc đó (không cần nghe các &quot;chuyên gia&quot; dự báo thị trường đã xuống đáy hay chưa). Cứ đầu tư liên tục và đều đặn để tận dụng compounding effect, đừng cố rình rập thị trường vì đa số các trường hợp bạn sẽ thất bại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
(còn tiếp)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;i&gt;Note: Phần tiếp theo của bài viết này sẽ chỉ dành cho các bạn có đăng ký membership và trả phí hàng tháng. Chi tiết về cách thức đăng ký và mức phí có thể &lt;a href=&quot;http://en.wikipedia.org/wiki/April_Fools%27_Day&quot;&gt;xem ở đây&lt;/a&gt;.&amp;nbsp;&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;</description><link>http://kinhtetaichinh.blogspot.com/2015/04/personal-finance.html</link><author>noreply@blogger.com (Anonymous)</author><thr:total>16</thr:total></item><item><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4568422884507290858.post-6735961084651464718</guid><pubDate>Fri, 06 Mar 2015 00:44:00 +0000</pubDate><atom:updated>2015-03-06T10:44:24.353+10:00</atom:updated><title>Tet &amp; GDP</title><description>&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cách đây hai năm &lt;a href=&quot;http://vtc.vn/don-tet-co-truyen-theo-duong-lich.2.361536.htm&quot;&gt;GS Võ Tòng Xuân&lt;/a&gt;&amp;nbsp;đề xuất chuyển kỳ nghỉ đón Tết cổ truyền lùi về theo dương lịch tương tự như Nhật đã làm năm 1873 dưới thời Minh Trị Thiên Hoàng. Lập luận chính của ông và những người ủng hộ đề xuất này chủ yếu từ khía cạnh kinh tế, Tết ta lệch với Tết tây có ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh, học tập của dân chúng và doanh nghiệp. Gần đây ý kiến này lại được hâm nóng với một số chuyên gia cho rằng nghỉ Tết ta có thể làm GDP giảm từ &lt;a href=&quot;http://laodong.com.vn/xa-hoi/ts-nguyen-tri-hieu-nghi-tet-9-ngay-se-thiet-hai-2-gdp-275419.bld&quot;&gt;2&lt;/a&gt; đến &lt;a href=&quot;http://vnexpress.net/tin-tuc/goc-nhin/tet-va-gdp-3147137.html&quot;&gt;5%&lt;/a&gt;. Tuy nhiên những con số này mới chỉ là ước lượng sơ khởi, rất cần một đánh giá có tính học thuật cao hơn để người dân và các nhà hoạch định chính sách có thể thảo luận và cân nhắc đề xuất của GS Xuân một cách thấu đáo. Bài viết này sẽ đưa ra một số phân tích định lượng về tác động của của Tết ta vào GDP như một đóng góp nhỏ cho nỗ lực của GS Võ Tòng Xuân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trước hết có thể nói phần đông, kể cả một số người phản đối ý tưởng của GS Võ Tòng Xuân, đồng ý rằng Tết ta có ảnh hưởng tiêu cực đến GDP. Tác động của Tết thông qua một số kênh như số ngày nghỉ kéo dài, năng suất lao động sụt giảm trước và sau Tết do bận bựu chuẩn bị và dư âm của những ngày Tết. Câu nói cửa miệng &quot;Để ra Tết rồi tính&quot; phản ánh một thực trạng là kỳ nghỉ Tết truyền thống làm gián đoạn nhiều hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Sự lệch pha giữa kỳ nghỉ năm mới của Việt Nam so với thế giới cũng có tác động tiêu cực khi nền kinh tế ngày càng hội nhập. Về phương diện vĩ mô việc gia tăng tiêu dùng rất lớn trong dịp Tết luôn tạo sức ép lên mặt bằng giá cả, gây khó khăn cho những chính sách ổn định kinh tế. Dù khó đánh giá chính xác nhưng nhiều khả năng thói quen &quot;ăn Tết&quot; lớn của người Việt cũng làm giảm tổng tiết kiệm của toàn xã hội, ảnh hưởng đến đầu tư và cán cân thanh toán.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một khía cạnh vĩ mô khác ít người để ý là mức độ sử dụng (capacity utilitzation) của nền kinh tế giảm thấp hơn nhiều công suất tiềm năng trong giai đoạn Tết gây ra một sự lãng phí nguồn lực rất lớn. Có thể thấy điều này khá rõ qua số liệu thống kê GDP theo quí của Việt Nam. Trong vòng 10 năm lại đây (Q1 2005 - Q4 2014) GDP(*) trung bình của Q1, quí có Tết, chỉ chiếm khoảng 18% GDP của cả năm (so với 25% nếu GDP được dàn đều trong 4 quí). So sánh với GDP Q4 ngay trước đó, trung bình trong 10 năm qua GDP Q1 giảm hơn 30%. Sự sụt giảm rất lớn này có thể còn do những yếu tố khác, nhưng chắc chắn Tết có phần đóng góp quan trọng. Điều này có thể kiểm chứng được bằng cách so sánh GDP của Việt Nam và Trung Quốc, hai nước có truyền thống ăn Tết âm lịch, với Thailand và Indonesia. Giống Việt Nam GDP Q1 của Trung Quốc giảm trung bình 24% so với Q4 trong khi con số này ở Thailand là tăng 1.1% còn Indonesia cũng tăng 0.2%.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Công bằng mà nói GDP Q1 hàng năm giảm không chỉ vì Tết, những yếu tố mùa vụ khác như thời tiết, tập quán canh tác hay thương mại quốc tế cũng có thể có tác động tiêu cực trong giai đoạn này. Tuy nhiên phân tích GDP theo quí cho một số phân ngành sản xuất ít phụ thuộc vào thời tiết hay đặc thù canh tác như công nghiệp, xây dựng, khai khoáng, y tế, giáo dục cũng cho thấy một bức tranh tương tự, những hoạt động kinh tế đó đồng loạt giảm mạnh trong khoảng thời gian có Tết. Đặc biệt giải ngân cho đầu tư công, một hoạt động hoàn toàn có tính chủ động và nội tại, giảm hơn 50% trong Q1. Có thể thấy dấu ấn của Tết khá rõ trong hầu hết các hoạt động của nền kinh tế.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vậy nếu Việt Nam chuyển việc &quot;ăn Tết&quot; theo dương lịch như GS Võ Tòng Xuân đề xuất liệu có giúp thúc đẩy tăng trưởng GDP mạnh hơn không? Trả lời câu hỏi này không hề dễ, lịch sử kinh tế thế giới chỉ duy nhất một lần ở Nhật có sự kiện này mà số liệu lúc đó không đủ để có thể phân tích và đánh giá. Do vậy bất kỳ nghiên cứu nào cũng phải sử dụng phương pháp mô phỏng cho sự kiện bỏ Tết với rất nhiều giả định. Trên nguyên tắc các nhà kinh tế có thể lập mô hình mô phỏng sự kiện này, nhưng chắc chắn những mô hình như vậy sẽ vô cùng phức tạp và khó có thể khẳng định được độ chính xác. Ở đây tôi xin đề xuất một phương pháp đơn giản hơn, tuy không trả lời được trực tiếp câu hỏi bỏ Tết sẽ làm tăng GDP bao nhiều phần trăm nhưng lượng hóa được phần nào ảnh hưởng của Tết trong GDP Q1.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Với số liệu thống kê tháng hay quí các nhà kinh tế thường áp dụng một số kỹ thuật hiệu chỉnh yếu tố mùa vụ (seasonal adjustment) để số liệu phản ánh chính xác hơn tình trạng sức khỏe của nền kinh tế. Đáng tiếc là cho đến thời điểm này Tổng cục Thống kê Việt Nam chưa thực hiện việc hiệu chỉnh cho hầu hết số liệu kinh tế xã hội mà cơ quan này công bố định kỳ hàng tháng hay hàng quí. Số liệu GDP mà tôi trích dẫn trên đây cũng vậy, Q1 hàng năm - khoảng thời gian luôn có Tết âm lịch rơi vào - có GDP chưa hiệu chỉnh thấp hơn hẳn các quí khác. Nếu áp dụng một kỹ thuật hiệu chỉnh mùa vụ, chuỗi GDP theo quí sẽ ít biến động hơn và phần lớn ảnh hưởng của Tết (và các yếu tố mùa vụ khác) trong Q1 sẽ được loại bỏ. Con số GDP được hiệu chỉnh này có thể tạm coi là một con số đại diện cho trường hợp giả tưởng tất cả các yếu tố mùa vụ không còn, bao gồm cả việc bỏ Tết ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sử dụng một phương pháp hiệu chỉnh mùa vụ do &lt;a href=&quot;https://ideas.repec.org/p/ecb/ecbwps/20050499.html&quot;&gt;Matthias Mohr&lt;/a&gt;&amp;nbsp;ở Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) phát triển, kết quả là GDP Q1 trung bình sẽ tăng khoảng 8% so với GDP của Q4 trước đó. So với mức giảm 30% của chuỗi GDP chưa hiệu chỉnh, tác động tổng hợp của các yếu tố mùa vụ trong Q1 - mà Tết có vai trò quan trọng - là hơn 38%. Nghĩa là nếu loại bỏ tất cả các yếu tố mùa vụ trong Q1, bao gồm cả việc bỏ Tết ta, GDP của quí này sẽ tăng so với hiện tại khoảng 38%. Lưu ý rằng điều này không đồng nghĩa với GDP của cả năm sẽ tăng 9.5% (=38/4) vì nhiều hoạt động kinh tế hiện tại đang được dồn sang Q2 và Q4 sẽ được dàn bớt về Q1. Nhưng chỉ riêng việc năng lực sản xuất của nền kinh tế được sử dụng hiệu quả hơn trong Q1, loại bỏ các yếu tố mùa vụ (trong đó có Tết) sẽ có tác động rất tích cực lên toàn nền kinh tế.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tất nhiên việc dời Tết ta về trùng với Tết tây sẽ không loại bỏ hoàn toàn yếu tố mùa vụ của hoạt động này. Người Việt có thể vẫn tiếp tục ăn chơi phung phí trong dịp Tết ta mới, các lễ hội vẫn rình rang, ngân sách vẫn chậm giải ngân cho các dự án đầu tư công trước và sau Tết. Loại bỏ những yếu tố này không chỉ đơn thuần là dời ngày ăn Tết mà còn cần những nỗ lực thay đổi hành vi sống và cung cách làm việc của người dân, doanh nghiệp và các cơ quan công quyền. Tuy nhiên một công cuộc đổi mới có thể phải bắt đầu bằng một biện pháp thay đổi mạnh mẽ như bỏ Tết ta, điều mà nước Nhật đã chấp nhận để mở đầu thời kỳ cải cách lịch sử của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ghi chú: (*): Số liệu GDP của Việt Nam sử dụng trong bài này là số thống kê theo giá hiện hành và chưa được hiệu chỉnh yếu tố mùa vụ. Để giảm thiểu ảnh hưởng của lạm phát, tốc độ tăng trưởng GDP hàng quí được hiệu chỉnh với tốc độ tăng CPI cùng kỳ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;i&gt;[Một version của bài này đã được đăng trên TBKTSG.]&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;
&lt;i&gt;&lt;br /&gt;&lt;/i&gt;
&lt;i&gt;&lt;br /&gt;&lt;/i&gt;
&lt;i&gt;&lt;br /&gt;&lt;/i&gt;</description><link>http://kinhtetaichinh.blogspot.com/2015/03/tet-gdp.html</link><author>noreply@blogger.com (Anonymous)</author><thr:total>17</thr:total></item><item><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4568422884507290858.post-6232839827787648085</guid><pubDate>Thu, 05 Feb 2015 00:49:00 +0000</pubDate><atom:updated>2015-02-10T11:12:47.450+10:00</atom:updated><title>VNCB</title><description>&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Trước hết cần nói rõ tôi không có thông tin &quot;nội bộ&quot; nào về VNCB cũng như vụ xử lý vừa rồi của NHNN. Tất cả những gì tôi biết đều qua báo chí nên tôi chỉ phân tích dựa vào những thông tin đó trên quan điểm kinh tế và kinh nghiệm thực tế của bản thân. Thực ra nếu bạn đã đọc blog này lâu, bài này cũng không có gì mới vì tôi sẽ lặp lại quan điểm đã từng viết về &lt;a href=&quot;http://kinhtetaichinh.blogspot.com.au/2012/02/banking-reform.html&quot;&gt;banking reform&lt;/a&gt; từ năm 2012. Mới đó mà đã ba năm nhưng nhìn đi nhìn lại công cuộc cải tổ hệ thống ngân hàng của VN vẫn chưa có gì đột phá, cho đến vụ VNCB này.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Như tôi đã viết năm 2012 thực trạng của hệ thống ngân hàng VN có thể tóm tắt bằng một câu: nợ xấu (đã công khai + chưa được thừa nhận)&amp;nbsp;quá nhiều sau một giai đoạn tăng trưởng nóng đẩy nhiều ngân hàng đến bờ vực phá sản. Đây là hệ quả của một số nguyên nhân khách quan như sự bùng phát của khu vực kinh tế tư nhân sau khi Luật Doanh nghiệp 2000 ra đời, VN gia nhập WTO và dòng vốn ngoại ào ạt chảy vào, kinh tế thế giới tăng trưởng mạnh. Những lý do chủ quan cũng quan trọng không kém: trình độ quản lý của giới ngân hàng chưa tốt, sự yếu kém của cơ quan quản lý (NHNN), hệ thống pháp luật lỏng lẻo, chính sách kinh tế sai lầm (Vinashin, Vinalines). Trong số các chính sách kinh tế dẫn đến hệ lụy nghiêm trọng cho hệ thống ngân hàng, NHNN có trách nhiệm rất lớn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Không kể việc buông lỏng quản lý trong giai đoạn trước năm 2006, thời thống đốc Nguyễn Văn Bình còn là Chánh Thanh tra, NHNN đã phạm phải hai sai lầm quan trọng từ thời ông Lê Đức Thúy và Nguyễn Văn Giàu. Thứ nhất là điều hành chính sách tiền tệ sai lầm dẫn đến lạm phát cao, sau đó lạm dụng quá nhiều các biện pháp can thiệp hành chính để chống lạm phát. Một sai lầm nổi bật trong chính sách tiền tệ là NHNN đã không thực hiện tốt chức năng người cho vay cuối cùng, buộc những ngân hàng nhỏ/yếu khi thiếu thanh khoản phải chạy đua lãi suất huy động và/hoặc sử dụng những kênh huy động chui. Sẽ không có vụ ACB cho nhân viên đi gửi tiền vào các tổ chức tín dụng khác nếu thanh khoản trong hệ thống không bị bóp nghẹt.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sai lầm thứ hai của NHNN là ép các ngân hàng phải tăng vốn điều lệ. Tôi đã viết &lt;a href=&quot;http://kinhtetaichinh.blogspot.com.au/2010/05/bank-size-ii.html&quot;&gt;một bài phân tích&lt;/a&gt; rất kỹ về vấn đề này từ năm 2010. Thay vì phải quản lý thật chặt CAR, NHNN chỉ quan tâm đến giá trị tối thiểu của tử số mà không màng gì đến mẫu số. Nói đúng ra NHNN sau này đã quản lý mẫu số (assets) bằng trần tăng trưởng tín dụng, nhưng với mục đích kiểm soát lạm phát chứ không phải vì lý do an toàn hệ thống. Chính vì định hướng sai lầm này và năng lực quản lý yếu kém của NHNN nợ xấu (và lạm phát) đã gia tăng liên tục, chỉ &quot;tam nghỉ&quot; một giai đoạn ngắn khi khủng hoảng tài chính xảy ra. Chỉ sau khi chính phủ chuyển trọng tâm từ &quot;tăng trưởng&quot; sang &quot;ổn định vĩ mô&quot;, nhất là sau vụ Vinashin/Vinalines, nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng mới bắt đầu đi vào quĩ đạo hợp lý. Có điều cái giá phải trả sẽ là vài năm tăng trưởng chậm lại hoặc thậm chí suy thoái, chỉ chưa biết VN có thực hiện triệt để structural reform để không bị rơi vào vòng xoáy tăng trưởng nóng-khủng hoảng một lần nữa không.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Quay lại vấn đề cải tổ hệ thống ngân hàng. Trong ba năm qua NHNN vẫn loay hoay với kế hoạch sáp nhập các ngân hàng yếu kém, NHNN và các cơ quan khác đã nhiều lần loại bỏ khả năng để một/vài ngân hàng phá sản, vd phát biểu của ông Vũ Viết Ngoại&amp;nbsp;&lt;a href=&quot;https://plus.google.com/112488760986970926997/posts/MnKCaY3aX33&quot;&gt;ở đây&lt;/a&gt;. Vụ ép &lt;a href=&quot;https://plus.google.com/112488760986970926997/posts/jYtvYPUCh86&quot;&gt;sáp nhập ba ngân hàng&lt;/a&gt; Cổ phần Sài Gòn, Việt Nam Tín nghĩa, Cổ phần Đệ nhất thực chất rất gần với việc phá sản theo Chapter 11 của luật Mỹ nhưng NHNN vẫn không dám sử dụng thuật ngữ &quot;phá sản&quot;. NHNN vẫn luôn viện dẫn lý do phải bảo vệ người dân gửi tiền cũng như tránh xảy ra hoảng loạn rút tiền hàng loạt (bank-run) nếu một ngân hàng phá sản. Tôi không đồng ý với cả hai lập luận này và sẽ viết kỹ hơn bên dưới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bên cạnh hoạt động sáp nhập, chính sách thứ hai của NHNN nhằm tháo gỡ bế tắc cho hệ thống ngân hàng là việc thành lập VAMC. Cho đến thời điểm này tôi vẫn cho rằng VAMC ra đời vì quan điểm &quot;nợ xấu là một cục máu đông&quot; trong nền kinh tế do ông Trần Du Lịch cổ súy là một chính sách không cần thiết, thậm chí lạc hướng. Tôi đã viết về VAMC nhiều lần, ví dụ &lt;a href=&quot;http://kinhtetaichinh.blogspot.com.au/2013/10/vamc.html&quot;&gt;ở đây&lt;/a&gt;. Nợ xấu nếu đã được thừa nhận và&lt;a href=&quot;http://kinhtetaichinh.blogspot.com.au/2013/02/bad-debt-accounting.html&quot;&gt; trích lập dự phòng đầy đủ&lt;/a&gt; thì không phải là trở ngại lớn cho hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên các ngân hàng luôn có &lt;a href=&quot;http://kinhtetaichinh.blogspot.com.au/2012/07/bad-debt.html&quot;&gt;incentive che dấu nợ xấu&lt;/a&gt;, cho nên vai trò của cơ quan quản lý phải là giám sát chặt chẽ không để ngân hàng làm điều này, đồng nghĩa với ngầm tích tụ rủi ro. Xét cho cùng vai trò giám sát nhà nước ở đây vẫn là đảm bảo CAR tối thiểu và enforce những ngân hàng nào không đảm bảo điều kiện này phải phá sản để không ảnh hưởng đến hệ thống. Thay vào đó NHNN đưa ra &quot;sáng kiến&quot; VAMC hi vọng làm sạch số sách kế toán cho các ngân hàng, rồi loay hoay với việc có buộc các ngân hàng phải &lt;a href=&quot;http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/nhnn-hoan-thoi-han-thuc-hien-thong-tu-02-la-can-thiet-201306041136491437.chn&quot;&gt;trích lập dự phòng đầy đủ&lt;/a&gt; không. Vẫn là cái tâm lý kỵ chữ &quot;phá sản&quot;.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Vậy tại sao NHNN không chịu để một vài ngân hàng yếu kém phá sản? Hai lý do chính thường được viện dẫn là khi ngân hàng phá sản những người dân gửi tiền sẽ bị mất (một phần) và điều này có thể tạo ra khủng hoảng dây chuyền khi các ngân hàng lành mạnh khác cũng bị rút tiền hàng loạt. Với lý do thứ nhất, đối với những ngân hàng nhỏ và đã có tai tiếng một thời gian, những cá nhân/doanh nghiệp gửi một khoản tiền lớn vào đó phải hiểu được rủi ro khi gửi tiền. Xét cho cùng gửi tiền tiết kiệm cũng là một hình thức đầu tư, &quot;high return&quot; tất phải đi cùng với &quot;high risk&quot;. Việc một ngân hàng đang rất khó khăn mà vẫn huy động được một lượng tiền gửi lớn còn có một phần lỗi lớn của cơ quan chức năng trong việc giám sát và công bố thông tin. Nếu NHNN kiểm soát chặt không để các ngân hàng che dấu nợ xấu (và không trích lập dự phòng) đồng thời enforce qui định CAR tối thiểu, khó có chuyện một ngân hàng đã trên bờ vực phá sản mà vẫn huy động được tiền tiết kiệm ào ào. Thêm vào đó việc ngăn cản các công ty tư nhân thực hiện việc đánh giá sức khỏe ngân hàng (vụ &lt;a href=&quot;http://kinhtetaichinh.blogspot.com.au/2009/12/credit-rating.html&quot;&gt;Vietnam Credit&lt;/a&gt;) cũng làm vấn đề asymmetric information tệ hơn. Nếu báo chí và các dịch vụ xếp hạng tín dụng cảnh báo một ngân hàng có rủi ro cao, liệu người dân có liều mạng gửi tiền dù lãi suất cao?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng dẫu sao quan điểm của tôi vẫn là cá nhân/doanh nghiệp gửi tiền vào một ngân hàng phải tự chịu rủi ro nếu ngân hàng phá sản. NHNN nói riêng và nhà nước nói chung không có trách nhiệm phải bảo vệ số tiền bạn gửi vào ngân hàng, mặc dù họ có trách nhiệm đảm bảo hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn nhất có thể. Thậm chí nếu nhân viên ngân hàng lừa đảo chiếm dụng tiền của bạn, nhà nước chỉ có trách nhiệm truy tố những kẻ phạm tội trước pháp luật chứ không phải đền bù thiệt hại cho nhà đầu tư. Đây là điều chính phủ VN đã làm trong vụ nước hoa Thanh Hương đầu những năm 1990, những người gửi tiền (trong đó có gia đinh tôi) phải chấp nhận bị mất. Gần đây hơn, đầu năm 2013 Cyprus đã buộc các cá nhân gửi tiền phải bị mất một phần tiền gửi (haircut) khi giải cứu hệ thống ngân hàng của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vậy còn trách nhiệm của bảo hiểm tiền gửi là gì? Tôi đã từng có một bài phân tích rất kỹ chức năng của bảo hiểm tiền gửi &lt;a href=&quot;http://kinhtetaichinh.blogspot.com.au/2012/02/deposit-insurance.html&quot;&gt;ở đây&lt;/a&gt;. Về cơ bản nhiệm vụ chính của bảo hiểm tiền gửi là bảo vệ payment system của một quốc gia trong trường hợp ngân hàng trung ương không chống đỡ nổi một cuộc bank-run lớn. Tuy nhiên FDIC, cơ quan bảo hiểm tiền gửi của Mỹ, trong suốt lịch sử của nó chỉ duy nhất một lần vào năm 1933 (khi nó được thành lập) thực hiện chức năng này. Trên thực tế vai trò của FDIC trong hệ thống tài chính hiện tại chủ yếu là giám sát và đứng ra giàn xếp quá trình phá sản/thanh lý/restructuring các ngân hàng thương mại. Đáng tiếc là Bảo hiểm tiền gửi VN chưa làm được điều này. Nhiều nước không có bảo hiểm tiền gửi vì họ tin tưởng ngân hàng trung ương của mình có thể chống lại bank-run, và tất nhiên nhà nước không có trách nhiệm phải bảo vệ tiền của người dân gửi ở ngân hàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lý do thứ hai NHNN thường viện dẫn để biện minh cho quan điểm không để một ngân hàng nào phá sản là nguy cơ xảy ra bank-run hay contagion (khủng hoảng dây chuyền). Như đã đề cập bên trên, chống bank-run là nhiệm vụ của ngân hàng trung ương với chức năng người cho vay cuối cùng. Trên nguyên tắc bảo hiểm tiền gửi cũng trợ giúp ngân hàng trung ương chống lại bank-run, tuy nhiên thực tế là vai trò của bảo hiểm tiền gửi khá mờ nhạt trong thời gian gần đây. Khi cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2009 xảy ra ngân hàng trung ương các nước có vai trò chống khủng hoảng quyết định với các gói trợ giúp thanh khoản khẩn cấp như TAF của Mỹ, LTRO của châu Âu hay các gói QE sau này. Một công cụ chống khủng hoảng rất mới và sáng tạo cũng được Fed và ECB đưa ra trong thời gian này là official stress test.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mặc dù stress test không được báo chí nhắc đến nhiều, công cụ này có vai trò khá quan trọng ngăn chặn khủng hoảng lây lan. Sở dĩ vụ phá sản của Lehman Brothers châm ngòi cho cuộc khủng hoảng vì bản chất bank-run trong thế giới tài chính hiện tại đã khác xa thời những năm 1930. Khi funding của các tổ chức tài chính lớn phụ thuộc vào wholesale market và các sản phẩm tài chính trở nên quá phức tạp (bạn có thể tham khảo &lt;a href=&quot;http://kinhtetaichinh.blogspot.com.au/2008/10/cdo-cds-primer.htmlhttp://kinhtetaichinh.blogspot.com.au/2008/10/cdo-cds-primer.htmlhttp://kinhtetaichinh.blogspot.com.au/2008/10/cdo-cds-primer.html&quot;&gt;bài này&lt;/a&gt;) bank-run trở thành vấn đề nội bộ của giới ngân hàng (nói chính xác hơn là giữa banks và shadow banks). Khi đó việc trợ giúp liquidity truyền thống có thể không còn nhiều tác dụng hoặc rất khó thực hiện. Stress test giúp các tổ chức tài chính xác định được (một cách tương đối) rủi ro nằm ở chỗ nào, do vậy giúp phòng chống các nhà đầu tư rút chạy hàng loạt trên thị trường wholesale vì không đủ thông tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nói lòng vòng như vậy để thấy một ngân hàng trung ương có năng lực cộng thêm trợ giúp của cơ quan bảo hiểm tiền gửi sẽ không quá lo ngại việc một ngân hàng phá sản, nhất là một ngân hàng nhỏ không quá interconnected. Trên thực tế hàng năm Mỹ có vài chục ngân hàng phá sản mà thị trường không xuy xuyển gì. Ngay trong giai đoạn khủng hoảng cao trào đầu năm 2009 hàng trăm ngân hàng thương mại Mỹ phá sản nhưng FDIC giải quyết ổn thỏa. Sự kiện Lehman Brothers có bản chất rất khác và sẽ còn rất lâu cho đến khi VN phải lo lắng một điều tương tự xảy ra. Do đó theo tôi việc NHNN cứ lần lữa để một ngân hàng thương mại phá sản chỉ có thể do NHNN không tự tin vào chính năng lực của mình và Bảo hiểm tiền gửi VN, một điều đáng tiếc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Để hiểu rõ hơn vụ VNCB cũng như hoạt động của một ngân hàng thương mại nói chung sau đây tôi sẽ giới thiệu một ví dụ tối giản về balance sheet của một ngân hàng. Giả sử bạn mở một ngân hàng với $10 triệu vốn tự có, huy động thêm $90 triệu tiền gửi của khách hàng (total liabilities = $100 triệu). Giả sử NHNN không yêu cầu minimum reserve, nghĩa là bạn có thể cho vay hết $100 triệu này (total assets = $100 triệu). Trong trường hợp này CAR = 10%, giả sử yêu cầu CAR tối thiểu = 8%.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nếu vì một lý do nào đó một khoản cho vay trị giá $1 triệu trở thành nợ xấu (không nhất thiết bị mất hoàn toàn mà chỉ cần khả năng thu hồi nợ trở nên khó hơn) bạn phải công bố số nợ xấu đó và trích lập dự phòng (ghi sổ) bằng một con số âm bên cột assets. Nghĩa là total assets chỉ còn $99 triệu, do đó bên cột liabilities cũng phải giảm $1 triệu tương ứng, giảm vào phần vốn tự có (chỉ còn $9 triệu). Như vậy CAR lúc này còn xấp xỉ 9%, vẫn cao hơn yêu cầu tối thiểu nên ngân hàng của bạn vẫn được phép hoạt động nhưng tất nhiên giá trị cổ phiếu của ngân hàng nếu được giao dịch trên thị trường sẽ giảm. Tất cả các shareholders đều phải chia sẻ số lỗ $1 triệu đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bay giờ giả sử khoản nợ xấu là $5 triệu, bạn sẽ phải trích lập dự phòng và ghi lỗ vào phần vốn tự có như trên. Total assets sẽ còn $95 triệu và owners&#39; capital còn $5 triệu, nghĩa là CAR chỉ còn xấp xỉ 5%, thấp hơn yêu cầu tối thiểu. Đến thời điểm này nếu NHNN giám sát chặt chẽ họ sẽ yêu cầu bạn phải nâng CAR lên ít nhất bằng 8% bằng cách hoặc (i) huy động thêm $2.6 triệu vốn điều lệ, (ii) giảm bớt assets xuống $62.5 triệu. Cách (i) sẽ làm giảm cổ phần của các cổ đông hiện hữu trừ khi họ bỏ thêm tiền của họ, do vậy có thể giảm/mất quyền kiểm soát ngân hàng và phải chia sẻ lợi nhuận trong tương lai. Cách (ii) khó thực hiện trên thực tế (vì các ràng buộc pháp lý) và chắc chắn sẽ làm giá trị của ngân hàng giảm thêm vì tài sản bán vội vàng trong trường hợp như vậy sẽ mất giá.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong trường hợp của VNCB, nợ xấu còn tệ hơn, lớn hơn vốn tự có (lớn hơn $10 triệu trong ví dụ này). Do đó cách (ii) không còn ý nghĩa vì dù có bán hết tài sản (giả sử bằng book value) cũng không đủ để trả lại $90 triệu tiền gửi của khách hàng. Cách (i) cũng không thực tế bởi các nhà đầu tư chẳng dại gì bỏ ra một số tiền hơn $10 triệu để mua một ngân hàng có giá trị thấp hơn con số đó, mà đó là tính theo giá trị sổ sách, giá thị trường còn thấp hơn nữa. Có thể hiểu tại sao các cổ đông hiện hữu của VNCB không chịu bỏ thêm tiền vào ngân hàng để tăng vốn tự có lên đủ yêu cầu CAR tối thiểu. Lúc này cơ quan quản lý có hai phương án: (a) cho ngân hàng phá sản, (b) giàn xếp bailout.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như đã nói bên trên, NHNN vì một lý do nào đó đã tuyên bố loại trừ (a), như vậy chỉ còn giải pháp (b). Bailout, mà tiếng Việt dịch (không đạt lắm) thành &quot;giải cứu&quot;, về cơ bản là can thiệp của nhà nước vào một ngân hàng/tổ chức tài chính nhằm cứu nó ra khỏi tình trạng insolvency (vốn chủ sở hữu âm). Riêng với các ngân hàng ngay cả khi chưa bị insolvent nhưng CAR rơi xuống quá thấp mà không có khả năng phục hồi (theo phương án (i) hoặc (ii) bên trên) thì ngân hàng đó vẫn phải dừng hoạt động (bị tước giấy phép hoạt động ngân hàng do không đủ điều kiện CAR tối thiểu) hoặc cũng cần được bailout. Ở đây tôi gộp chung cả 2 trường hợp bailout do bị insolvent hoặc vẫn solvent nhưng CAR quá thấp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thông thường bailout vẫn được hiểu là chính phủ bơm tiền (tax payers&#39; money) cứu doanh nghiệp, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Trong vụ LTCM Fed và Treasury không bỏ tiền mà giàn xếp để các chủ nợ của LTCM bơm thêm tiền cho công ty này. Tất nhiên để có bailout hoàn toàn bằng tiền tư nhân như vậy cơ quan quản lý nhiều khi phải đưa ra những đảm bảo hay concession, dù là non-cash nhưng nếu tính đúng tính đủ cũng là một dạng &quot;tiền nhà nước&quot;. Trường hợp Bear Stearns ở Mỹ hay Hypo Real Estates ở Đức, bailout thực hiện bằng cả tiền của nhà nước lẫn private money. Tuy nhiên phần lớn các cuộc bailout được thực hiện bằng tiền của nhà nước, như Northern Rock và Lloyd của Anh hay Gotabanken và&amp;nbsp;Nordbanken của Thụy Điển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Số tiền nhà nước bỏ ra bailout các ngân hàng tư nhân phần lớn dưới hình thức recapitalization, nghĩa là góp vào vốn chủ sở hữu để đảm báo CAR đạt yêu cầu tối thiểu. Tùy vào mức độ thua lỗ của ngân hàng trước đó (tùy vào tỷ lệ nợ xấu cao bao nhiêu), số vốn góp vào của nhà nước có thể chiếm phần lớn tổng số owners&#39; equity. Trong trường hợp tỷ lệ này áp đảo như trường hợp RBS hay Northern Rock, ngân hàng sẽ bị coi như đã được quốc hữu hóa (nationalization). Như vậy cần phải hiểu quốc hữu hóa là một hình thức bailout mà nhà nước bỏ tiền ra mua phần lớn cổ phần của một ngân hàng (hay một doanh nghiệp nói chung). Sở dĩ nhà nước phải quốc hữu hóa một ngân hàng vì số vốn chủ sở hữu của ngân hàng không còn đủ để hoạt động theo luật (hoặc đã âm) và ngân hàng đó không có khả năng huy động vốn (recapitalize) trên thị trường.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Quay lại trường hợp VNCB, vì vốn chủ sở hữu đã âm nên ngân hàng này buộc phải (a) phá sản hay (b) được bailout. Dường như NHNN đã chọn giải pháp (b) khi vẫn khăng khăng không để VNCB phá sản. Vấn đề là đến thời điểm này NHNN không/chưa bỏ thêm một đồng nào để recapitalize VNCB cho nên trên nguyên tắc nó vẫn không đủ điều kiện để hoạt động như một ngân hàng bình thường. Lưu ý rằng NHNN cho vay tái cấp vốn, một hình thức tương đương như discount window của Fed, chỉ có tính chất trợ giúp thanh khoản chứ không phải recapitalization. Nếu NHNN tiếp tục cho VNCB vay tái cấp vốn để trả cho các liability (tiền gửi) đến hạn thì quyền lợi của người dân gửi tiền sẽ được đảm bảo đúng như cam kết của NHNN. Tuy nhiên NHNN sẽ phải chịu lỗ vì tổng số assets của VNCB đã thấp hơn liabilities. Số lỗ này (và số tiền recapitalization nếu có) là cái giá NHNN thực sự phải trả cho vụ bailout chứ không phải NHNN không tốn đồng nào vì mua cổ phiếu giá bằng không. Đáng tiếc là người dân, mà thậm chí cả các đại biểu Quốc hội, sẽ khó có thể biết NHNN đã chấp nhận &quot;lỗ&quot; bao nhiêu. NHNN chưa bao giờ công bố balance sheet của mình cũng như chưa bao giờ có kiểm toán hay thanh tra ở cơ quan này.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng NHNN cũng không sai khi nói rằng họ có thể lời khi bán VNCB sau này. Vì giá trị liabilities cố định còn giá trị assets thay đổi theo thị trường, hiện tại NHNN lỗ vì total assets &amp;lt; liabilities nhưng nếu bất đẳng thức này đổi chiều thì NHNN sẽ có lời. Vấn đề là làm thế nào để nó đổi chiều? Liệu VCB, đại diện của NHNN quản lý VNCB, có tái cấu trúc thành công hay không và liệu tình hình thị trường lúc bán lại VNCB có tốt lên hay không. Tất nhiên không ai có thể biết trước và nhiệm vụ của NHNN cũng không phải là mua bán ngân hàng để kiếm lời. Điều quan trọng là NHNN đảm bảo được sự an toàn/ổn định cho hệ thống ngân hàng dù có thể phải chịu lỗ (chi phí bailout). Lợi ích của môt hệ thống tài chính lành mạnh lớn hơn nhiều chi phí bailout nếu bailout được làm đúng cách và công bằng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Công bằng ở đây có nghĩa là những người đã có quyết định sai phải chịu trách nhiệm cho những quyết định đó. Cụ thể shareholders của VNCB phải bị mất hết cổ phần vì đã để ngân hàng làm ăn kém hiệu quả dẫn đến vốn chủ sở hữu bị âm. Đây là điều tôi đã cổ súy trong mấy năm nay, bất kỳ một cuộc cải tổ/bailout nào cũng phải buộc shareholder chịu lỗ đầu tiên. Vụ VNCB là lần đầu tiên NHNN làm được điều này và tôi hi vọng không phải lần cuối cùng. Tôi thực sự chúc mừng NHNN đã vượt qua được rào cản vô hình khi bailout/quốc hữu hóa VNCB. Điều mà tôi không đồng ý là có thông tin cho rằng NHNN đã đem trách nhiệm hình sự ra làm điều kiện trao đổi. Nếu một vài cá nhân ở VNCB phạm tội hình sự, trách nhiệm của NHNN là phải báo cho cơ quan điều tra hoặc viện kiểm sát để khởi tố những hành vi này. Biết mà không báo cho cơ quan chức năng có thể bị qui vào tội che dấu tội phạm. Hơn thế nữa sử dụng thông tin đó để ép các cổ đông phải bán với giá bằng không cũng tương đương như hành vi tống tiền. Cả về mặt luật pháp lẫn đạo đức đều sai kể cả nếu shareholders thực sự phạm tội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tóm lại tôi ủng hộ phương án giải quyết VNCB của NHNN dù tôi vẫn prefer để/buộc nó phá sản. Tôi không nghĩ rằng một ngân hàng nhỏ và đã nằm trong diện kiểm soát đặc biệt một thời gian dài như vậy sẽ gây ra phản ứng dây chuyền khi phá sản. Ngược lại để một ngân hàng phá sản sẽ là một bài học tốt cho cả giới ngân hàng lẫn người dân gửi tiền, một biện pháp chống lại moral hazard hữu hiệu. Hơn nữa để VNCB phá sản sẽ công bằng hơn vì những người không được lợi lộc gì từ ngân hàng này (không phải là shareholder hay depositor) không phải chia sẻ chi phí bailout với các depositors. Dẫu sao tôi cũng chúc cho kế hoạch tái cấu trúc và bán lại VNCB thuận buồng xuôi gió.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;Update&lt;/b&gt;: Tôi có viết một note trên &lt;a href=&quot;https://plus.google.com/112488760986970926997/posts/T6FsDizcS4e&quot;&gt;Google Plus&lt;/a&gt; năm 2011 về vụ ba ngân hàng SCB, Ficombank, TinNghiaBank hợp nhất, quan điểm cũng không khác mấy so với bên trên:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;span style=&quot;background-color: white; color: #404040; font-family: Roboto, arial, sans-serif; font-size: 13px; line-height: 12.1333341598511px;&quot;&gt;Từ trước tới giờ tôi vẫn phản đối chủ trương giảm số lượng ngân hàng thương mại và bắt các ngân hàng phình to ra (tăng vốn điều lệ). Tuy nhiên khi NHNN đã kiên quyết theo đuổi chính sách này thì nên làm nhanh và mạnh tay để giải tỏa uncertainty trong hệ thống. Bởi vậy tôi hoan nghênh vụ ép sáp nhập vừa rồi, kể cả nếu nhà nước có phải bỏ tiền recapitalize cho họ.&lt;/span&gt;&lt;br style=&quot;background-color: white; color: #404040; font-family: Roboto, arial, sans-serif; font-size: 13px; line-height: 12.1333341598511px;&quot; /&gt;&lt;br style=&quot;background-color: white; color: #404040; font-family: Roboto, arial, sans-serif; font-size: 13px; line-height: 12.1333341598511px;&quot; /&gt;&lt;span style=&quot;background-color: white; color: #404040; font-family: Roboto, arial, sans-serif; font-size: 13px; line-height: 12.1333341598511px;&quot;&gt;Điều tôi không tán thành là NHNN cứ chối quanh việc mình ép 3 ngân hàng kia sáp nhập. Tôi nghĩ đây là một chiến thuật sai lầm, đúng ra NHNN nên tuyên bố thẳng thừng 3 ngân hàng kia không đảm bảo mức độ an toàn liquidity và CAR nên NHNN sẽ đứng ra tái cấu trúc lại bằng cách yêu cầu họ phải sáp nhập. Nguyên tắc căn bản của quá trình tài cấu trúc là phần lớn nợ xấu phải được write off hoặc chuyển sang một SIV (giống như vụ Bear Stearns). Tất nhiên shareholders hiện tại sẽ bị mất vốn, thậm chí sẽ trắng tay và không còn cổ phần trong ngân hàng mới.&amp;nbsp;&lt;/span&gt;&lt;br style=&quot;background-color: white; color: #404040; font-family: Roboto, arial, sans-serif; font-size: 13px; line-height: 12.1333341598511px;&quot; /&gt;&lt;br style=&quot;background-color: white; color: #404040; font-family: Roboto, arial, sans-serif; font-size: 13px; line-height: 12.1333341598511px;&quot; /&gt;&lt;span style=&quot;background-color: white; color: #404040; font-family: Roboto, arial, sans-serif; font-size: 13px; line-height: 12.1333341598511px;&quot;&gt;Để đảm bảo cho ngân hàng mới có đủ vốn hoạt động theo luật định, NHNN sẽ phải rót vốn (recapitalize) vào và trở thành một cổ đông mới. Nếu cơ sở pháp lý không cho phép NHNN trở thành cổ đông thì có thể thông qua một trung gian như BIDV hoặc một quĩ đầu tư nào đó. NHNN sẽ cam kết là sau khi lộ trình tái cấu trúc kết thúc toàn bộ số cổ phần của nhà nước sẽ được bán lại cho tư nhân, có thể qua IPO (như trường hợp General Motors năm 2009) hoặc private placement cho những nhà đầu tư lớn. Đây là phương pháp Thụy Điển đã làm trong những năm 1990 để tái cấu trúc (rất thành công) hệ thống ngân hàng của họ.&lt;/span&gt;&lt;br style=&quot;background-color: white; color: #404040; font-family: Roboto, arial, sans-serif; font-size: 13px; line-height: 12.1333341598511px;&quot; /&gt;&lt;br style=&quot;background-color: white; color: #404040; font-family: Roboto, arial, sans-serif; font-size: 13px; line-height: 12.1333341598511px;&quot; /&gt;&lt;span style=&quot;background-color: white; color: #404040; font-family: Roboto, arial, sans-serif; font-size: 13px; line-height: 12.1333341598511px;&quot;&gt;NHNN có thể cam kết sẽ hỗ trợ thanh khoản cho ngân hàng mới này, hoặc thông qua BIDV hay các ngân hàng khác hoặc trực tiếp từ discount window của mình. Thực ra sau khi recapitalize thì vấn đề thanh khoản của ngân hàng mới này sẽ không còn quá khó khăn nữa và họ cũng có balance sheet tốt hơn nên sẽ dễ dàng đi vay liên ngân hàng hơn. Một biện pháp khác khá cứng rắn mà NHNN có thể làm, vừa để tránh khó khăn thanh khoản cho ngân hàng mới này ngay sau khi nó được công bố vừa để cảnh cáo những người gửi tiền tham lãi suất cao (chống moral hazard), là freeze toàn bộ withdrawal từ các tài khoản hiện hữu trong vài ngày hoặc vài tuần cho đến khi quá trình thương thuyết recapitalize hoàn tất.&lt;/span&gt;&lt;br style=&quot;background-color: white; color: #404040; font-family: Roboto, arial, sans-serif; font-size: 13px; line-height: 12.1333341598511px;&quot; /&gt;&lt;br style=&quot;background-color: white; color: #404040; font-family: Roboto, arial, sans-serif; font-size: 13px; line-height: 12.1333341598511px;&quot; /&gt;&lt;span style=&quot;background-color: white; color: #404040; font-family: Roboto, arial, sans-serif; font-size: 13px; line-height: 12.1333341598511px;&quot;&gt;Tóm lại tôi muốn thấy NHNN mạnh tay hơn trong vụ này, vừa để tăng credibility vừa để đồng tiền mà mình bỏ ra (taxpayers&#39; money) để tái cấu trúc hệ thống ngân hàng có tác dụng mạnh nhất. Tiếc là NHNN có vẻ vừa làm vừa run, lo những việc đâu đâu như ... &quot;ném chuột vỡ bình&quot;.﻿&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;</description><link>http://kinhtetaichinh.blogspot.com/2015/02/vncb.html</link><author>noreply@blogger.com (Anonymous)</author><thr:total>7</thr:total></item><item><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4568422884507290858.post-7703937440459579659</guid><pubDate>Sun, 16 Nov 2014 05:22:00 +0000</pubDate><atom:updated>2014-11-16T15:22:22.626+10:00</atom:updated><title>Long Thanh</title><description>&lt;br /&gt;
&lt;i&gt;Dưới đây là một số ý kiến (khá dài và kỹ thuật) của tôi về dự án sân bay Long Thành sau khi đọc xong tờ trình+báo cáo&amp;nbsp;của chính phủ gửi QH về dự án này và phản hồi của UBKT QH. [Những ý kiến này đã được gửi cho báo Thanh Niên].&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
1. Tôi không ủng hộ cũng không phản đối dự án xây dựng sân bay Long Thành vì chưa đủ thông tin để kết luật.&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
2. Tôi không có ý kiến gì về số lượng hành khách qua TSN trong những năm qua và dự báo cho các năm tới. Tôi biết một số người (vd TS Nguyễn Thiện Tống) nghi ngờ thống kê và dự báo của ACV nhưng tôi không có thông tin và chuyên môn để đánh giá vấn đề này, cho nên tôi giả định số liệu hành khách của Tờ trình và Báo cáo là chính xác.&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
3. Về lâu dài tôi ủng hộ việc xây dựng một sân bay quốc tế thay thế hoặc sử dụng song song với TSN. Tuy nhiên thời điểm cụ thể và phương án đầu tư thế nào phụ thuộc vào một số yếu tố tôi sẽ bàn thêm bên dưới.&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
4. Rất tiếc tài liệu tôi tham khảo chỉ có bản Tóm tắt Báo cáo Đầu tư chứ không phải toàn bộ Báo cáo Đầu tư nên tôi không có đủ thông tin để đánh giá những vấn đề liên quan đến hiệu quả kinh tế cũng như tác động macro. Tôi cũng giả định những thông tin trong Tờ trình và Tóm tắt BCĐT phản ánh trung thực nội dung của BCĐT.&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
5. Tôi đồng ý với UBKT QH trong bản thẩm định về việc BCĐT cần phải được dân chúng, các chuyên gia độc lập và các cơ quan khác góp ý, đồng nghĩa với chính phủ phải công khai toàn bộ BCĐT (bao gồm tất cả các số liệu tính toán).&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
6. Tôi đồng ý với UBKT QH về việc phải đưa thêm một số phương án (địa điểm) khác ngoài Long Thành vào BCĐT. Phương án Biên Hoà rõ ràng không khả thi vì Bộ QP đã phủ quyết nên đưa vào BCĐT chỉ để làm &quot;chân gỗ&quot;.&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
7. Phương án mở rộng TSN trong BCĐT không thực sự đầy đủ và thuyết phục. Không đầy đủ vì chưa nói rõ các biện pháp tăng công suất với 2 đường băng hiện có, vd đàm phán với BQP thay đổi lại các vùng cấm bay. Bản thân BCĐT cho biết một sân bay với 2 đường băng cấu trúc đóng như TSN có thể đáp ứng 59 chuyến/giờ, gần gấp đôi so với công suất hiện tại (29 chuyến/giờ:&amp;nbsp;&lt;a href=&quot;http://nguoidothi.vn/khong-du-l-do-de-khai-tu-san-bay-tan-son-nhat.ndt&quot; style=&quot;color: #1155cc;&quot; target=&quot;_blank&quot;&gt;http://nguoidothi.&lt;wbr&gt;&lt;/wbr&gt;vn/khong-du-l-do-de-khai-tu-&lt;wbr&gt;&lt;/wbr&gt;san-bay-tan-son-nhat.ndt&lt;/a&gt;). Không thuyết phục vì phương án nhà ga và đường băng thứ 3 (bản đồ trang 11 tóm tắt BCĐT) không phải tối ưu, thiết kế dường như để tăng tối đa diện tích phải đền bù giải toả (e.g. tại sao không thiết kế một đường băng thứ ba dọc theo cạnh tam giác hiện hữu hướng NW-SE, có nhất thiết đường băng thứ ba phải đủ dài cho máy bay lớn hạ cánh không hay chỉ cần để giảm tải cho 2 đường băng hiện hữu?).&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
8. Ngay cả nếu TSN hết công suất và lượng hành khách tăng như ACV dự báo, điều này không có nghĩa VN sẽ mất một lượng khách nước ngoài đúng bằng phần thiếu hụt công suất. Một số khách nước ngoài sẽ đi qua cửa khẩu khác, bản thân TSN sẽ phải cải thiện năng suất để có thể phục vụ một lượng khách tăng lên, TSN có thể sẽ giảm bớt phục vụ các tuyết bay nội địa ngắn, vd SG-Nha Trang, SG-Đà lạt, để dành công suất cho quốc tế. Tóm lại nếu không xây Long Thành và không mở rộng TSN cũng không có nghĩa VN sẽ mất một lượng lớn khách nước ngoài như BCĐT dự báo dù chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng.&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
9. Bản tóm tắt BCĐT không nói chi tiết nhưng có thể tóm tắt lợi ích của xây dựng LT gồm 2 phần: lợi ích thương mại (từ doanh thu tăng thêm) và lợi ích kinh tế (từ chi tiêu của số khách nước ngoài tăng thêm). Phần lợi ích kinh tế (trang 50 Tóm tắt BCĐT) có vẻ không đúng vì nhầm doanh thu với lợi nhuận (&lt;a href=&quot;https://plus.google.com/112488760986970926997/posts/VoQemriGccX&quot; style=&quot;color: #1155cc;&quot; target=&quot;_blank&quot;&gt;https://plus.google.com/&lt;wbr&gt;&lt;/wbr&gt;112488760986970926997/posts/&lt;wbr&gt;&lt;/wbr&gt;VoQemriGccX&lt;/a&gt;). Rất tiếc các tác động kinh tế khác (vd giảm kẹt xe cho khu vực TSN, giảm ô nhiễm cho SG, kích thích tăng trưởng ở LT...) đã không được tính đến. Ngược lại BCĐT cũng không tính đến chi phí xã hội liên quan đến nợ công, ngân sách, ảnh hưởng môi trường ở khu vực sân bay mới. Vấn đề nợ công sẽ được nói thêm bên dưới.&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
10. Mục chi phí do thời gian đi lại tăng thêm (trang 50) từ LT về trung tâm SG so với từ TSN về trung tâm chỉ là 15 phút có vẻ không thực tế nếu xa lộ HN không được đầu tư thêm. Ngoài ra sân bay LT nằm hẳn về một phía của thành phố nên hành khách ở phía bên kia thành phố sẽ phải đi lại xa hơn khá nhiều. Quan trọng hơn chi phí xây dựng hạ tầng cho LT sẽ tốn kém hơn vì xa hơn TSN, vd nếu xây một tuyết metro nối TSN với trung tâm SG thì chỉ mất 7km, trong khi đó metro từ LT về sẽ là 45km. Trừ khi thành phố phát triển hoàn toàn về phía LT, chi phí xây dựng hạ tầng nối LT với SG sẽ phải tính hết vào chi phí của dự án sân bay này khi so sánh với phương án mở rộng TSN.&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
11. Theo một số đánh giá độc lập (vd của TS Nguyễn Xuân Thành:&amp;nbsp;&lt;a href=&quot;http://baodatviet.vn/kinh-te/tai-chinh/san-bay-long-thanhkieu-gi-cung-khong-kha-thi-ve-tai-chinh-2358273/&quot; style=&quot;color: #1155cc;&quot; target=&quot;_blank&quot;&gt;http://baodatviet.vn/&lt;wbr&gt;&lt;/wbr&gt;kinh-te/tai-chinh/san-bay-&lt;wbr&gt;&lt;/wbr&gt;long-thanhkieu-gi-cung-khong-&lt;wbr&gt;&lt;/wbr&gt;kha-thi-ve-tai-chinh-2358273/&lt;/a&gt;)&lt;wbr&gt;&lt;/wbr&gt;, dự án sân bay LT không khả thi về mặt tài chính. Nghĩa là FIRR nhỏ hơn chi phí vốn hoặc NPV âm. Nếu EIRR dương (khá lớn) như BCĐT đưa ra, phần lợi ích kinh tế trừ đi chi phí kinh tế phải rất lớn. Chưa kể khả năng lợi ích kinh tế có thể không chính xác (đã nêu trong mục 9), BCĐT cần phải tính toán FIRR và ước lượng (negative) cashflow để đánh giá gánh nặng xây/vận hành sân bay LT vào ngân sách. Ngoài ra vì F-NPV âm trong khi E-NPV dương (rất lớn) nên cần phải có phân tích sensitivity cẩn thận về lợi ích kinh tế kể cả khi nó được tính đúng.&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
12. Vì lợi ích kinh tế (do lượng khách nước ngoài vào VN tăng lên) là lý do duy nhất làm E-NPV dương, xây sân bay ở LT hay bất kỳ đâu cũng có lợi ích kinh tế tương tự như vậy, kể cả phương án cải tạo TSN hay Biên Hoà. Như vậy rõ ràng khi xây dựng các phương án khác nhau chỉ cần so sánh F-NPV hay FIRR là đủ (vì phần lợi ích kinh tế như nhau). Tất nhiên phải lưu ý các ràng buộc phi kinh tế ví dụ các vùng cấm bay vì lý do quân sự hay sự phản đối của dân cư vì ô nhiễm tiếng ồn... Một cách test khách quan phương án nào có FIRR cao nhất là tổ chức đấu thầu cho các đơn vị tư nhân đứng ra làm BOP hay PPP để họ chọn phương án tối ưu nhất. Ví dụ nhà nước tuyên bố sẽ có 2 phương án: giải toả và xây thêm một đường băng ở TSN vs xây mới LT, rồi yêu cầu các công ty tư nhân đấu thầu BOT nhà ga ở 1 trong 2 địa điểm đó. Nếu các công ty đồng loạt chọn LT thì có nghĩa FIRR của LT cao hơn, do vậy EIRR cũng cao hơn.&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
13. Về ảnh hưởng vào nợ công, ngân sách như đã nói bên trên BCĐT không đề cập đến. Tuy nhiên Bộ trưởng ĐLT đã công bố một số ước tính (&lt;a href=&quot;http://vov.vn/chinh-tri/quoc-hoi/xay-dung-san-bay-long-thanh-da-co-loi-giai-ve-von-361040.vov&quot; style=&quot;color: #1155cc;&quot; target=&quot;_blank&quot;&gt;http://vov.vn/chinh-tri/quoc-&lt;wbr&gt;&lt;/wbr&gt;hoi/xay-dung-san-bay-long-&lt;wbr&gt;&lt;/wbr&gt;thanh-da-co-loi-giai-ve-von-&lt;wbr&gt;&lt;/wbr&gt;361040.vov&lt;/a&gt;). Vì chưa rõ những số liệu này được tính toán như thế nào nên tôi không thể có ý kiến. Tuy nhiên việc sử dụng 5000 nghìn tỷ cổ phần hoá VNA để giảm bớt gánh nặng cho ngân sách đúng ra vẫn phải tính vào ảnh hưởng nợ công vì nếu không xây LT số tiền này có thể được sử dụng để trả bớt nợ. Nếu chính phủ bảo lãnh cho một đơn vị nào đó vay để thực hiện một/vài hạng mục của LT thì trách nhiệm bảo lãnh cần phải qui ra nợ công tương đương.&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
14. Nguyên tắc tài chính công là với một ngân sách giới hạn, người làm chính sách phải chọn ra những dự án có hiệu quả đầu tư cao nhất để thực hiện. Dù khó có thể yêu cầu BCĐT so sánh hiệu quả kinh tế xã hội của việc xây sân bay LT với bỏ tiền vào giáo dục hay một dự án đầu tư công khác lĩnh vực, QH cũng cần đặt câu hỏi cho chính phủ nếu ngân sách sang năm không tăng liệu chính phủ có chấp nhận cắt đầu tư/chi tiêu ở một lĩnh vực khác để đầu tư cho LT hay không. Nói cách khác dù EIRR của sân bay LT là 22.1% hay 29.8%, vấn đề không phải là so sánh với một chuẩn chiết khấu xã hội 10-12% cứng nhắc mà phải đánh giá trong tổng thể đầu tư/phát triển đất nước nói chung trong điều kiện bị budget constraint. QH nên khuyến khích chính phủ tiết giảm chi tiêu thường xuyên để có tiền đầu tư, nhất là vào cơ sở hạ tầng. Có thể đưa ra một thoả thuận ngân sách kiểu như nếu chính phủ cắt giảm được 10% biên chế thì số tiền lương tiết kiệm được sẽ giao cho chính phủ tự quyết đầu tư vào một dự án nào đó mà không cần xin phép QH.&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
15. Một phương án khác, QH có thể ra đề bài cho chính phủ là phải tìm một phương án đầu tư giảm thiểu ảnh hưởng vào tỷ lệ nợ công, thậm chí cần phải đưa ra một phương án đầu tư mà sau một số năm nhất định sẽ giúp giảm tỷ lệ nợ công. Tỷ lệ này không chỉ phụ thuộc vào chi phí đầu tư mà còn vào tác động của dự án lên tăng trưởng kinh tế. Một dự án dù phải đi vay nhiều ban đầu nhưng nếu có tác động tốt đến tăng trưởng thì về dài hạn có thể sẽ làm giảm tỷ lệ nợ công. Các dạng đầu tư (BOT hay PPP) và các phương án cổ phần hoá sau này cũng phải tính đến khi xem xét tác động vào ngân sách và tỷ lệ nợ công. Bởi vậy việc đánh giá tác động đầu tư vào nợ công phải trong dài hạn chứ không chỉ 1-2 năm đầu của dự án.&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
16. Để giảm bớt gánh nặng trực tiếp vào ngân sách, dự án nên khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân tham gia bỏ vốn dưới hình thức PPP. Nên đưa ra những hình thức PPP có cấu trúc tài chính phù hợp với mức độ rủi ro mà nhà đầu tư tư nhân có thể chấp nhận như preferred shares, options hoặc convertible bonds. Nhà nước có thể khuyến khích các quĩ đầu tư trong nước lập ra các infrastructure fund để các nhà đầu tư nhỏ cũng có thể góp vốn vào các dự án infrastructure lớn thông qua các funds đó. Thu hút các infrastructure funds nước ngoài đầu tư vào LT, thậm chí mời họ ngồi vào HĐQT của công ty vận hành sân bay.&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
17. Trên nguyên tắc bất kỳ dự án nào có E-NPV dương đều có thể đầu tư ngay nếu không bị budget constraint. Như đã thảo luận trong mục 14, một khi chính phủ có giới hạn về ngân sách và nợ công, vấn đề chọn dự án liên quan đến so sánh E-NPV và/hoặc EIRR, nhưng cũng có thể sẽ phải so sánh F-NPV/FIRR. Vấn đề là bản thân budget constraint cũng không phải một con số cố định. Lý thuyết macro hiện đại cho phép chính phủ có thâm hụt lớn, đồng nghĩa với tăng chi tiêu và đầu tư công, trong những giai đoạn kinh tế suy thoái. Ngược lại nếu khu vực kinh tế tư nhân đang phát triển mạnh và có nhu cầu sử dụng vốn cao, nhà nước cần cắt giảm chi tiêu để tránh crowding out. Tuy nhiên vì chính phủ luôn có incentive tăng chi tiêu nên QH phải có chính sách điều tiết thông qua thắt chặt hay nới lỏng tiêu chí phê duyệt các dự án đầu tư tuỳ thuộc tình hình kinh tế vĩ mô.&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
18. Một vấn đề rất quan trọng không chỉ liên quan đến LT mà cả các vấn đề kinh tế xã hội khác là nhu cầu an ninh quốc phòng. Hầu hết các dự án đầu tư lớn đều có đụng chạm không ít thì nhiều đến vấn đề này. Cụ thể với dự án LT các vùng cấm bay, hành lang cất cánh hạ cánh sẽ có bị ảnh hưởng bởi các mục tiêu quân sự quốc phòng mà BCĐT không thể công bố. Dù không thể đòi hỏi Bộ Quốc phòng phải công bố những yêu cầu liêu quan đến an ninh quốc phòng, trên nguyên tắc QH có quyền và nên lập các uỷ ban đóng có trách nhiệm rà soát các yêu cầu của phía quốc phòng. Nhu cầu an ninh quốc phòng luôn phải được ưu tiên nhưng cũng cần cân đối với các mục tiêu kinh tế xã hội. Hiện tại số liệu không phận VN được mở ra cho các hoạt động dân sự chưa được công bố, trong khi TQ mở 30% còn Mỹ mở 85% (&lt;a href=&quot;http://www.economist.com/news/china/21610320-military-exercises-contribute-dreadful-airline-delays-sky-limit&quot; style=&quot;color: #1155cc;&quot; target=&quot;_blank&quot;&gt;http://www.economist.com/&lt;wbr&gt;&lt;/wbr&gt;news/china/21610320-military-&lt;wbr&gt;&lt;/wbr&gt;exercises-contribute-dreadful-&lt;wbr&gt;&lt;/wbr&gt;airline-delays-sky-limit&lt;/a&gt;). Về lâu dài nhiều khả năng VN sẽ phải mở không phận tiệm cận tỷ lệ của Mỹ, đòi hỏi QH phải thảo luận và nghiên cứu với các cơ quan quốc phòng một cách tích cực.&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div style=&quot;background-color: white; color: #222222; font-family: arial, sans-serif; font-size: 12.6666669845581px;&quot;&gt;
&lt;br /&gt;&lt;/div&gt;
</description><link>http://kinhtetaichinh.blogspot.com/2014/11/long-thanh.html</link><author>noreply@blogger.com (Anonymous)</author><thr:total>0</thr:total></item><item><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4568422884507290858.post-5024586975215722800</guid><pubDate>Wed, 17 Sep 2014 00:27:00 +0000</pubDate><atom:updated>2014-09-17T10:27:37.808+10:00</atom:updated><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">Labor</category><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">Statistics</category><title>Unemployment rate</title><description>&lt;br /&gt;
Trước đây đa số người Việt không mấy ai quan tâm hoặc biết đến số liệu thống kê thất nghiệp. Dù đây là một chỉ số quan trọng cho các nền kinh tế phát triển nhưng với một nước nông nghiệp nghèo như VN thống kê về thất nghiệp không có&amp;nbsp;mấy giá trị và chưa kể độ chính xác luôn là một dấu hỏi. Tuy nhiên tôi vẫn hoan nghênh việc TCTK và Bộ LĐTBXH (với sự giúp đỡ của ILO) tiến hành thống kê và &lt;a href=&quot;http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=437&amp;amp;idmid=5&quot;&gt;công bố&lt;/a&gt; các chỉ số lao động việc làm, cho dù bộ số liệu này còn cần được cải thiện. Bởi vậy tôi lấy làm tiếc khi&amp;nbsp;&lt;a href=&quot;http://www.rfa.org/vietnamese/programs/ReviewOnlineDomesticPress/going-blindfold-in-the-dark-nn-09112014154111.html&quot;&gt;dư luận&lt;/a&gt; &lt;a href=&quot;http://dantri.com.vn/dien-dan/ti-le-that-nghiep-184-hay-van-de-o-dinh-nghia-942559.htm&quot;&gt;gần đây&lt;/a&gt; &lt;a href=&quot;http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/viet-nam-that-nghiep-1-84-cac-nuoc-phat-trien-con-mo-3077396.html&quot;&gt;công&lt;/a&gt; &lt;a href=&quot;http://tuoitre.vn/tin/ban-doc/20140908/ti-le-that-nghiep-184-qua-phi-ly/642754.html&quot;&gt;kích&lt;/a&gt; con số thất nghiệp 1.84% mà không để ý đến bức tranh lao động việc làm rộng hơn, tuy nhiên lỗi một phần do chính Bộ LĐTBXH.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ít nhất từ năm 1997 TCTK đã tiến hành điều tra và thống kê số liệu lao động việc làm hàng năm, từ năm 2012 số liệu quí bắt đầu được TCTK công bố. Số liệu việc làm và tỷ lệ thất nghiệp được TCTK đưa vào báo cáo kinh tế xã hội mỗi tháng cuối quí trong vài năm lại đây, tuy nhiên Bộ LĐTBXH chỉ bắt đầu &lt;a href=&quot;http://www.molisa.gov.vn/vi/Pages/ThiTruongLaoDong.aspx&quot;&gt;xuất bản ấn phẩm&lt;/a&gt; về các số thống kê này từ Q1 2014. Ba ấn phẩm đầu tiên được bộ này công bố trong các cuộc họp báo (không hiểu sao lại gọi là &lt;a href=&quot;http://khcn.molisa.gov.vn/NewsDetail.aspx?lg=1&amp;amp;CateID=11&amp;amp;ID=62&quot;&gt;hội thảo&lt;/a&gt;) có rất nhiều thông tin hữu ích về thị trường lao động chứ không chỉ có số liệu thất nghiệp. Trong khi các ấn phẩm của TCTK về lao động việc làm những năm trước và hai ấn phẩm đầu của Bộ LĐTBXH hầu như không tạo sự chú ý, ấn phẩm &lt;a href=&quot;http://www.molisa.gov.vn/Images/FileAnPham/fileanpham2014961613469.pdf&quot;&gt;thứ ba&lt;/a&gt; của bộ này bất ngờ bị báo chí và nhiều chuyên gia &quot;soi&quot; vì tỷ lệ thất nghiệp quá thấp, chỉ 1.84% so với trung bình 5-6% ở nhiều nước phát triển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Công bằng mà nói con số này đúng là thấp thật và tôi đồ rằng các cán bộ thống kê đã rất miễn cưỡng phải công bố nó, họ biết sẽ phải hứng chịu búa rừu dư luận. Nếu nhiều người nghi ngờ rằng số liệu thống kê VN (vd GDP, CPI) được điều chỉnh cho đẹp lên, tôi nghĩ cơ quan thống kê có khi lại muốn thống kê thất nghệp tệ đi vì xã hội khó có thể chấp nhận một nền kinh tế đang èo uột như hiện tại mà con số này lại thấp đến vậy. Như đổ thêm dầu vào lửa, bài trả lời phỏng vấn TS Nguyễn Thị Lan Hương, Viện trưởng Khoa học Lao động và Xã hội thuộc Bộ LĐTBXH, đã bị báo chí tường thuật lại với những cái tít rất giật gân: &quot;&lt;a href=&quot;http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/tin-tuc-thoi-su/viet-nam-khac-the-gioiban-tra-da-khong-coi-la-that-nghiep-3057665&quot;&gt;Việt Nam khác thế giới:Bán trà đá không coi là... thất nghiệp!&lt;/a&gt;&quot; hay &quot;&lt;a href=&quot;http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/vien-khoa-hoc-lao-dong-that-nghiep-tu-xua-den-nay-chi-co-giam-3077683.html&quot;&gt;Viện Khoa học Lao động: &#39;Thất nghiệp từ xưa đến nay chỉ có giảm&#39;&lt;/a&gt;&quot;.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Dù TS Hương và một số chuyên gia đã cố gắng giải thích, dường như báo chí và dư luận xã hội vẫn &quot;bất mãn&quot; với con số 1.84%. Điều này nhiều khả năng sẽ làm Bộ LĐTBXH dè dặt hơn trong việc giới thiệu những ấn bản thống kê của họ trong thời gian tới. Đây sẽ là thiệt thòi cho những người làm công tác thống kê, tôi tin có rất nhiều người làm nghiêm túc, và cho cả xã hội nói chung khi một nguồn thông tin quan trọng không được đoái hoài tới. Bởi vậy trong entry này tôi sẽ cố gắng &quot;bênh&quot; Bộ LĐTBXH một lần nữa. Tôi không quen biết ai và có quyền lợi gì liên quan đến vấn đề này, chỉ đơn thuần muốn mọi người có cái nhìn chính xác hơn về thống kê lao động việc làm cũng như cổ vũ cho TCTK và Bộ LĐTBXH tiếp tục điều tra và công bố những chỉ số này.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trước hết tôi tin vào khẳng định của TS Hương là &lt;a href=&quot;http://gso.gov.vn/danhmuc/HTCT_QG.aspx?ma_nhom=030703&quot;&gt;định nghĩa thất nghiệp&lt;/a&gt; của VN tuân thủ theo thông lệ quốc tế, chính xác hơn là tuân thủ theo &lt;a href=&quot;http://laborsta.ilo.org/applv8/data/c3e.html&quot;&gt;định nghĩa của ILO&lt;/a&gt;. Nếu mẫu điều tra của VN trong Q2 2014 là 50,000&amp;nbsp;hộ gia đình&amp;nbsp;như TS Hương công bố thì có thể nói mẫu này khá lớn khi so với &lt;a href=&quot;http://www.bls.gov/cps/cps_htgm.htm&quot;&gt;sample của Mỹ là 60,000&lt;/a&gt; hộ gia đình cho một đất nước có dân số đông gấp ba lần VN. Trên thực tế theo thông tin tại &lt;a href=&quot;http://portal.thongke.gov.vn/khodulieuldvl/Phuongandieutra.aspx?id=21&amp;amp;NameBar=GI%E1%BB%9AI%20THI%E1%BB%86U%20%3E%20Ph%C6%B0%C6%A1ng%20%C3%A1n%20%C4%91i%E1%BB%81u%20tra&quot;&gt;website của TCTK&lt;/a&gt; có năm mẫu này lên đến 173,000 hộ (2007). Mặc dù chưa được chi tiết như&amp;nbsp;&lt;a href=&quot;http://www.bls.gov/opub/hom/&quot;&gt;Handbook of Methods&lt;/a&gt; của Mỹ, TCTK đã rất cố gắng (với sự trợ giúp của UNDP) đưa&lt;a href=&quot;http://portal.thongke.gov.vn/khodulieuldvl/tongquan.aspx?id=11&amp;amp;NameBar=GI%E1%BB%9AI%20THI%E1%BB%86U%20%3E%20T%E1%BB%95ng%20quan&quot;&gt; toàn bộ bản hỏi và phương pháp điều tra&lt;/a&gt;&amp;nbsp;lên mạng. Với những thông tin nói trên tôi đánh giá cuộc điều tra này khá chất lượng, ít nhất về mặt thiết kế và tổ chức khảo sát. Tất nhiên chất lượng điều tra thực địa và xử lý số liệu có thể có vấn đề, nhưng với sự giúp đỡ của ILO và UNDP những con số thống kê được công bố có lẽ không quá xa chuẩn quốc tế.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vậy tại sao tỷ lệ thất nghiệp của VN lại thấp như vậy? Theo tôi lý do quan trọng nhất chính là ở cái &quot;chuẩn quốc tế&quot; mà VN cố gắng theo đuổi. Chuẩn quốc tế ở đây là &lt;a href=&quot;http://ilo.org/global/statistics-and-databases/standards-and-guidelines/lang--en/index.htm&quot;&gt;Standards and Guidelines on Labour Statistics&lt;/a&gt; của ILO, trong đó bao gồm một &lt;a href=&quot;http://ilo.org/global/statistics-and-databases/standards-and-guidelines/resolutions-adopted-by-international-conferences-of-labour-statisticians/WCMS_087481/lang--en/index.htm&quot;&gt;Resolution 1982&lt;/a&gt; liên quan đến các định nghĩa về lao động và thất nghiệp. ILO, một tổ chức quốc tế được thành lập tại Hội nghị Hòa bình Versailles năm 1919 với mục đích chuẩn hóa các tiêu chuẩn, chính sách bảo vệ người lao động, đưa ra các tiêu chuẩn thống kê thống nhất để có thể so sánh thị trường lao động giữa các nước thành viên. Không khó có thể đoán bộ tiêu chuẩn này dựa vào tiêu chuẩn thống kê của Mỹ và các nước phát triển khác. Bởi vậy những định nghĩa quan trọng như thất nghiệp hay thu nhập bình quân (hourly rate) có đặc thù của một nền kinh tế công nghiệp với phần lớn nhân công lao động làm thuê theo hợp đồng cho các đơn vị kinh tế cố định (công ty, nhà xưởng, cửa hàng).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Áp dụng máy móc định nghĩa của ILO vào thị trường lao động VN hẳn nhiên những người bán trà đá, hàng rong, hay chạy xe ôm sẽ không bị coi là thất nghiệp. Không chỉ VN mà ở hầu hết các nước nghèo người lao động không thể không làm việc vì cơ chế bảo hiểm xã hội quá ít hoặc không tồn tại. Nói theo một chuyên gia quốc tế thất nghiệp ở các nước nghèo là một điều &quot;xa xỉ&quot;, hầu như chỉ có những người rất giầu mới có thể cho phép mình không lao động. Do vậy có thể đoán các nước nghèo có tỷ lệ thất nghiệp rất thấp chứ không riêng gì VN. Dưới đây là tỷ lệ thất nghiệp của một số nước (&lt;a href=&quot;http://data.worldbank.org/indicator/SL.UEM.TOTL.NE.ZS/countries/JP-DE-VN-TH-KH-CN?display=graph&quot;&gt;nguồn WB&lt;/a&gt;), đồ thị này cho thấy Thailand và Cambodia có tỷ lệ thất nghiệp còn thấp hơn VN và tôi tin những người bán hàng rong hay chạy xe ôm ở những nước này cũng được tính là không thất nghiệp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: center;&quot;&gt;
&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhMrs_ArqYaWh2CHVXrgIuDU_Zk07ZnnDe9AirMyERMn8lERlkENaJJpbN2z6km97O-Oo-I-2ysQhfLzUDJLSgj4NzbYLgqW44AM8UugIH05m5JNt_-wtuz8oPyIBgL-N3iB_TEUI8VyS4/s1600/UR.JPG&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: 1em; margin-right: 1em;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhMrs_ArqYaWh2CHVXrgIuDU_Zk07ZnnDe9AirMyERMn8lERlkENaJJpbN2z6km97O-Oo-I-2ysQhfLzUDJLSgj4NzbYLgqW44AM8UugIH05m5JNt_-wtuz8oPyIBgL-N3iB_TEUI8VyS4/s1600/UR.JPG&quot; height=&quot;188&quot; width=&quot;400&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nếu chỉ đơn thuần nhìn vào con số tuyệt đối tỷ lệ thất nghiệp 1.84% quá tốt so với thế giới, nhưng tôi tin không một lãnh đạo nào của VN dám đưa con số này ra làm bằng chứng cho &quot;tính ưu việt&quot; của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Trên thực tế tỷ lệ thất nghiệp thấp như vậy là bằng chứng cho thấy người lao động VN phải làm bất cứ công việc gì với bất cứ mức thu nhập như thế nào để tồn tại. Nói theo lý thuyết kinh tế &lt;i&gt;structural unemployment rate&lt;/i&gt; của VN (và các nước nghèo khác) rất thấp,&amp;nbsp;có lẽ xấp xỉ bằng không. Quan sát của TS Hương về việc tỷ lệ thất nghiệp giảm liên tục rất có thể là sự sụt giảm của &lt;i&gt;structural unemployment rate&lt;/i&gt;, cho thấy cuộc sống của người lao động ngày càng bấp bênh, không có gì đáng tự hào.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Điều này có thể thấy rõ hơn qua một thống kê khác về lao động việc làm: tỷ lệ&amp;nbsp;&lt;a href=&quot;http://data.worldbank.org/indicator/SL.EMP.VULN.ZS/countries/JP-DE-VN-TH-KH-CN?display=graph&quot;&gt;lao động dễ tổn thương&lt;/a&gt; (người nội trợ, lao động tự do như bán trà đá, chạy xe ôm). Cũng giống như những nước nghèo khác tỷ lệ này của VN cao hơn hẳn, &amp;gt;60% ở VN và Cambodia,&amp;nbsp;&amp;gt;50% ở Thailand, &amp;nbsp;so với các&amp;nbsp;nước phát triển&amp;nbsp;&amp;lt;10%. Đây mới là một trong những chỉ số mà báo chí, dư luận, và những người&amp;nbsp;làm chính sách VN phải lưu tâm thay vì chăm chăm vào phê phán tỷ lệ thất nghiệp. ILO biết điều này và cũng&lt;a href=&quot;http://www.molisa.gov.vn/vi/Pages/chitiettin.aspx?IDNews=21745&quot;&gt; khuyến nghị&lt;/a&gt; như vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: center;&quot;&gt;
&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEi4_6q0Ub5j2hOSFn2BMY7SMThmPRPG9dVrg6AYm1KOsQlqO6LfdGZRFrGsBuQkTTya_cjbJuPxZ9l3hV1FXN_j3YEh4tuqJuSZsGjtOHz-vtWH3gX86irzrkKzEYaHLZUZ6XxPeb_lfo0/s1600/VR.JPG&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: 1em; margin-right: 1em;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEi4_6q0Ub5j2hOSFn2BMY7SMThmPRPG9dVrg6AYm1KOsQlqO6LfdGZRFrGsBuQkTTya_cjbJuPxZ9l3hV1FXN_j3YEh4tuqJuSZsGjtOHz-vtWH3gX86irzrkKzEYaHLZUZ6XxPeb_lfo0/s1600/VR.JPG&quot; height=&quot;181&quot; width=&quot;400&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tóm lại dù tôi còn rất nhiều bức xúc về số liệu thống kê của VN, con số thất nghiệp 1.84% không nằm trong số này. Tôi rất mong các nhà báo và các chuyên gia kinh tế tập trung hơn vào các số liệu khác trong các ấn phẩm thống kê về lao động việc làm của TCTK và Bộ LĐTBXH. Ví dụ đồ thị sau đây trong &lt;a href=&quot;http://www.molisa.gov.vn/Images/FileAnPham/fileanpham2014961613469.pdf&quot;&gt;Bản tin số 3&lt;/a&gt; cho thấy một sự dịch chuyển rất đáng quan tâm trong thị trường lao động VN trong Q2 2014. Thị trường xây dựng đang ấm dần lên trong khi thương mại dịch vụ và tài chính tiếp tục bế tắc?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: center;&quot;&gt;
&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhkJi0cZslgZwOETB1-Q7wle_MRR9fJgTAHIAz8lrThFuvbT8_GHRvqb2wpL5oNv7CV421kytN3oSv-lDkLlWSJd5P95hFuceHgISd93cYELDfo9MwKAC_qRGCJWTzKEGi_JtwKRuPSLSI/s1600/CC.JPG&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: 1em; margin-right: 1em;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhkJi0cZslgZwOETB1-Q7wle_MRR9fJgTAHIAz8lrThFuvbT8_GHRvqb2wpL5oNv7CV421kytN3oSv-lDkLlWSJd5P95hFuceHgISd93cYELDfo9MwKAC_qRGCJWTzKEGi_JtwKRuPSLSI/s1600/CC.JPG&quot; height=&quot;400&quot; width=&quot;340&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;</description><link>http://kinhtetaichinh.blogspot.com/2014/09/unemployment-rate.html</link><author>noreply@blogger.com (Anonymous)</author><media:thumbnail xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" url="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhMrs_ArqYaWh2CHVXrgIuDU_Zk07ZnnDe9AirMyERMn8lERlkENaJJpbN2z6km97O-Oo-I-2ysQhfLzUDJLSgj4NzbYLgqW44AM8UugIH05m5JNt_-wtuz8oPyIBgL-N3iB_TEUI8VyS4/s72-c/UR.JPG" height="72" width="72"/><thr:total>1</thr:total></item><item><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4568422884507290858.post-1875164881479724759</guid><pubDate>Tue, 02 Sep 2014 12:38:00 +0000</pubDate><atom:updated>2014-09-02T22:38:35.988+10:00</atom:updated><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">China</category><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">HS-TS</category><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">Law</category><title>Vietnam vs China</title><description>&lt;br /&gt;
&lt;div style=&quot;-webkit-text-stroke-width: 0px; color: black; font-family: &#39;Times New Roman&#39;; font-size: medium; font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; orphans: auto; text-align: start; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: auto; word-spacing: 0px;&quot;&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;div style=&quot;-webkit-text-stroke-width: 0px; color: black; font-family: &#39;Times New Roman&#39;; font-size: medium; font-style: normal; font-variant: normal; font-weight: normal; letter-spacing: normal; line-height: normal; margin: 0px; orphans: auto; text-align: start; text-indent: 0px; text-transform: none; white-space: normal; widows: auto; word-spacing: 0px;&quot;&gt;
&lt;i&gt;[Đây là bài cuối cùng trong series về BĐ-HS-TS của blog kinhtetaichinh. Tôi tạm ngưng chủ đề này không phải vì TQ đã rút giàn khoan HD-981 hay tôi không còn quan tâm đến nó nữa, đơn giản vì tôi đã tới giới hạn của những kiến thức cóp nhặt được từ một số sách vở/tài liệu mà tôi đọc trong 3 tháng qua. Là một kẻ ngoại đạo (về lịch sử, chính trị, công pháp quốc tế) tôi không có ý định trở thành hoặc được coi là chuyên gia trong lĩnh vực này, nhưng vẫn hi vọng những gì tôi viết ở đây giúp ích cho ai đó. Có điều các bạn đã được cảnh báo: Read at your own risk!]&lt;/i&gt;&lt;/div&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;Kiện TQ thế nào?&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi TQ kéo giàn khoan HD-981 vào Biển Đông đầu tháng 5/2014, giống như nhiều người Việt tôi rất &quot;to mồm&quot; kêu gào VN phải kiện ngay TQ ra một toà án quốc tế. Thú thực cho đến thời điểm đó tôi vẫn chưa hiểu rõ kiện cái gì và kiện thế nào, chỉ đơn giản nghĩ rằng chính nghĩa thuộc về VN nên chắc chắn cứ &quot;kiện&quot; là VN sẽ thắng. Kiến thức của tôi về các tranh chấp BĐ-HS-TS gần như chỉ gói gọn trong những gì phía VN đã tuyên truyền chính thức mấy chục năm qua, cộng thêm một vài thông tin lẻ tẻ đọc được trên mạng về công hàm Phạm Văn Đồng 1958 và hai cuộc hải chiến Hoàng Sa 1974 và Trường Sa 1988 mà chính phủ VN đã cố tình che giấu cho đến tận gần đây.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bước ngoặt thúc đẩy tôi quyết tâm tìm hiểu kỹ hơn về chủ đề này là &lt;a href=&quot;https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=1430220267239378&amp;amp;id=100007542552795&quot;&gt;vụ CNN phỏng vấn Sam Bateman&lt;/a&gt; ngày 11/6 sau khi TQ &quot;tố&quot; VN ra LHQ. Trong cuộc phỏng vấn đó ông tiến sỹ tại viện RSIS (NTU - Singapore) này khẳng định đa số học giả quốc tế cho rằng claim chủ quyền của TQ về HS-TS mạnh hơn của VN. Nóng mũi trước phát biểu đó, trong gần 3 tháng qua tôi bỏ công tìm đọc hầu hết các tác giả mà Sam Bateman nhắc đến và một số học giả quốc tế có uy tín trong lĩnh vực này, đáng kể nhất là Marwyn Samuels, Stein Tonnesson, Greg Austin, Robert Beckman, Ang Chen Guan và một số tác giả khác (cả một số tác giả VN và TQ).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Dù là một người ngoại đạo và chỉ có điều kiện đọc tài liệu rất tản mát, đến thời điểm này có thể nói hiểu biết của tôi về việc &quot;&lt;i&gt;kiện TQ ra một toà án quốc tế&lt;/i&gt;&quot; đã rõ ràng hơn nhiều so với 3 tháng trước. Quả thực kiện thế nào, kiện cái gì, và kiện ở đâu không hề đơn giản. Trong entry này tôi sẽ tóm tắt lại những gì tôi đã tìm hiểu về chủ đề này cho những ai quan tâm, nhưng tất nhiên tôi vẫn khuyến cáo các bạn muốn biết tường tận nên tham khảo ý kiến của các luật gia/luật sư chuyên nghiệp về công pháp quốc tế.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;Kiện ra PCA theo UNCLOS&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bài trả lời phỏng vấn hãng Reuters của &lt;a href=&quot;http://news.yahoo.com/exclusive-vietnam-pm-says-considering-legal-action-against-000116096--finance.html&quot;&gt;thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng&lt;/a&gt;&amp;nbsp;ngày 22/5&amp;nbsp;đã làm nức lòng nhiều người Việt khi lần đầu tiên một lãnh đạo cao cấp tuyên bố VN có thể sẽ sử dụng &quot;legal action&quot; chống lại TQ. Sau TT Dũng, người phát ngôn BNG và một số quan chức khác cũng nhắc đến biện pháp này, thậm chí có người đã nói VN chỉ còn cân nhắc thời điểm khởi kiện. Việc BNG ký &quot;&lt;a href=&quot;https://plus.google.com/112488760986970926997/posts/7AS5NSGyD6P&quot;&gt;Host Country Agreement&lt;/a&gt;&quot; với PCA, toà trọng tài mà Philippines đang kiện TQ, càng làm nhiều người hi vọng chính phủ VN cuối cùng cũng dám đối đầu với ông anh Cộng sản phương bắc. Tuy nhiên cho đến thời điểm này, hơn 1 tháng sau khi HD-981 đã rút đi, VN vẫn chưa có động thái gì trên mặt trận pháp lý và chuyến thăm TQ của ủy viên BCT&amp;nbsp;&lt;a href=&quot;http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2014/08/140828_cang_thang_viet_trung_se_ha_nhiet.shtml&quot;&gt;Lê Hồng Anh&lt;/a&gt; càng làm nhiều người thất vọng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tôi sẽ không đi vào phân tích tình hình quan hệ giữa VN và TQ, điều này nằm ngoài khả năng của tôi. Tuy nhiên tôi cho rằng cho dù quan hệ này nồng ấm trở lại cũng không hẳn VN sẽ không còn khả năng thực hiện một &quot;legal action&quot; liên quan đến Biển Đông. Ở đây tôi cho rằng chữ &quot;legal action&quot; mà TT Dũng phát biểu có ý nghĩa không chỉ một vụ kiện ra tòa mà có thể còn bao hàm những biện pháp pháp lý khác ít đối đầu với TQ hơn. Tất nhiên tôi prefer phương án kiện TQ sòng phẳng ra PCA như Philippines đang làm, mà đáng ra VN nên cùng join với Philippines từ đầu năm 2013. Như tôi đã phân tích trong entry &lt;a href=&quot;http://kinhtetaichinh.blogspot.com.au/2014/07/philippines-vs-china.html&quot;&gt;Philippines vs China&lt;/a&gt;, phe khởi kiện trong vụ này có thể sẽ thất bại vì PCA không công nhận jurisdiction do TQ đã opt-out theo điều 298 UNCLOS. Tuy nhiên nếu VN khởi kiện lúc đó hoặc nếu bây giờ VN nộp hồ sơ kiện sẽ có một số lợi ích sau.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thứ nhất, nếu VN kiện TQ ra PCA theo tinh thần tương tự như Philippines, hoặc thậm chí có thể đề nghị Philippines sửa đổi đơn kiện năm 2013 để đưa thêm VN vào bên nguyên cáo, thì khả năng lớn là TQ sẽ tiếp tục không theo kiện như đã làm với Philippines. Điều này sẽ giúp VN tránh phải giải trình trước tòa về những bằng chứng &quot;khó ăn khó nói&quot; như công hàm Phạm Văn Đồng hay lời phát biểu của thứ trưởng Ung Văn Khiêm. Tất nhiên TQ sẽ vẫn &quot;lu loa&quot; những bằng chứng này ngoài tòa như đã làm khi VN phản đối vụ giàn khoan HD-981, nhưng điều đó không ảnh hưởng/liên quan đến các tranh tụng trong tòa. Điều này rất quan trọng vì tôi nghĩ một trong những lý do VN vẫn lưỡng lự kiện và nhún nhường TQ là do ĐCS VN lo ngại một tòa án quốc tế xử VN thua vì công hàm PVĐ hay những bằng chứng bất lợi khác mà họ mắc phải trong quá khứ. Việc tòa không xét đến những bằng chứng đó sẽ giúp cho ĐCS tránh được lời buộc tội &quot;bán nước&quot; mà lề trái đã khăng khăng bấy lâu nay cho dù kết quả thắng thua ra sao.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thứ hai, vẫn biết dù VN thắng kiện thì TQ sẽ không bao giờ chấp nhận và tuân thủ phán quyết của tòa, nhưng việc tự nguyện đem tranh chấp ra phân xử ở một tòa án quốc tế là một hành động văn minh và chắc chắn sẽ được dư luận quốc tế ủng hộ. Dù thiên vị TQ thế nào đi nữa những học giả như Sam Bateman hay Stefan Talmon cũng không thể biện hộ cho tính chính đáng của các claim của TQ trên Biển Đông được nữa sau khi một tòa án quốc tế ra phán quyết chính thức. Một phần dư luận nội bộ TQ sẽ thức tỉnh hiểu rằng những gì chính quyền của họ tuyên truyền không phải là sự thật. Tôi tin rằng một phán quyết có lợi cho VN sẽ làm TQ chùn bước trong những kế hoạch leo thang sắp tới, giàn khoan HD-981 sẽ khó có thể được kéo vào EEZ của VN một cách ngang nhiên như vừa qua, một vùng cấm bay (ADIZ) mà TQ có thể đưa ra trong tương lai trên Biển Đông sẽ vấp phải phản kháng quốc tế mạnh mẽ hơn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thứ ba, như đã phân tích trong entry trước, có một khả năng Philippines và TQ sẽ thỏa thuận ngoài tòa trước khi PCA có phán quyết cuối cùng, VN sẽ &quot;nhỡ tầu&quot; nếu điều này xảy ra. Việc tham gia vụ kiện, một mình hay chung tên với Philippines, sẽ giúp VN trong các cuộc đàm phán ngoài tòa với TQ. Mặc dù tôi tin VN đã và đang sử dụng khả năng kiện TQ như một quân bài (bargaining chip) trong các cuộc đàm phán, nếu thay quân bài đó bằng việc đi kiện rồi ra điều kiện cho TQ phải đàm phán và nhượng bộ thì mới rút đơn kiện sẽ là strategy mạnh mẽ hơn nhiều. Mà không chỉ trong các cuộc đàm phán song phương, đem vụ kiện ra &quot;mặc cả&quot; trong các đàm phán đa phương như COC sắp tới hay trong các diễn đàn quốc tế như ASEAN+3, Shangrila... sẽ giúp củng cố vị trí/quan điểm của VN và các &quot;đồng minh&quot; như Philippines.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cuối cùng là lý do đối nội. Chỉ mới rào đón khả năng &quot;legal action&quot; mà rất nhiều người đã tung hô TT Dũng, thậm chí đã có người kêu gọi đưa ông lên làm tổng thống. Nếu ông thực sự khởi kiện tôi tin đa số dân VN sẽ ủng hộ ông bất chấp các phe cánh chính trị khác trong ĐCS chống lại, và dù kết cục thế nào cái tên Nguyễn Tấn Dũng sẽ đi vào lịch sử một cách rất khác với cái tên Phạm Văn Đồng. Nếu ĐCS đồng lòng khởi kiện, những cáo buộc &quot;bán nước&quot; của lề trái sẽ không còn cơ sở. Nhưng quan trọng hơn một vụ kiện như vậy sẽ khẳng định quyết tâm &quot;thoát Trung&quot; mà đa số dân VN mơ ước. Tôi cho rằng có một số không nhỏ dân chúng trong nước sẵn sàng chấp nhận chế độ độc đảng nếu VN thực sự thoát Trung. Ngược lại nếu ĐCS quay đầu về công thức Thành Đô thì vị trí của họ sẽ lung lay như nhận định mới đây của &lt;a href=&quot;http://www.economist.com/news/asia/21612234-relations-between-two-communist-neighbours-are-their-lowest-point-decades-through-border&quot;&gt;The Economist&lt;/a&gt;: &quot;&lt;i&gt;... the Communists in Hanoi that get burned.&lt;/i&gt;&quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trên đây là phương án kiện tốt nhất mà tôi mong muốn VN tiến hành. Nhưng đó không phải là duy nhất và khả thi nhất, &quot;legal action&quot; trong trường hợp này còn bao hàm khả năng VN đưa vụ việc ra ITLOS mà tôi sẽ phân tích trong phần tiếp theo.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;Yêu cầu ITLOS cho Advisory Opinion&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một số người (trong đó có tôi) cho rằng nên tách việc kiện TQ xâm phạm EEZ của VN với vấn đề chủ quyền trên HS-TS. Bởi lẽ bất kể bên nào có chủ quyền trên đảo Tri Tôn thuộc HS, nếu đảo này không có EEZ thì theo UNCLOS vị trí giàn khoan HD-981 TQ kéo vào Biển Đông đầu tháng 5 vừa rồi rõ ràng nằm trong phạm vi 200 hải lý EEZ của VN. Phía TQ tuyên bố vị trí giàn khoan nằm trong contiguous zone của đảo Tri Tôn mà họ claim thuộc về họ. Có thể thấy TQ đã cố tình tránh không đề cập đến khái niệm EEZ vì bản thân họ cũng thấy đảo này quá nhỏ và không đủ điều kiện để có EEZ riêng. Một câu hỏi đặt ra là tại sao TQ không để HD-981 nằm trong vùng hải phận 12 hải lý của đảo Tri Tôn, như vậy TQ sẽ buộc chặt vấn đề lãnh hải với chủ quyền đảo và VN sẽ khó bề kiện TQ như Philippines đã làm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bỏ qua khả năng đây là một tính toán sai của TQ, tôi nghĩ vị trí giàn khoan nằm ngoài hải phận 12 hải lý của Tri Tôn là một phép thử không chỉ với VN mà còn với ITLOS và giới luật gia liên quan đến UNCLOS. Vấn đề là nếu TQ muốn test, liệu VN có dám tham gia hay không và VN phải làm gì? Câu trả lời đã được một số chuyên gia như Stein Tonnesson, Robert Beckman, Tạ Văn Tài khuyến nghị trước và sau vụ HD-981. VN cần hỏi ITLOS một cách chính thức (seek an advisory opinion) về cơ sở tuyên bố EEZ cho các đảo/bãi đá thuộc HS-TS. Đây không phải là &quot;kiện&quot; theo qui định UNCLOS nên sẽ tránh được các điều 287 và 298, TQ không bị &quot;lôi ra tòa&quot; nên về phương diện ngoại giao biện pháp này sẽ đỡ căng thẳng hơn. Theo Robert Beckman UNCLOS không có qui định nào về điều này nhưng bản thân ITLOS (Article 138, Rules of the Tribunal) cho rằng tòa này có jurisdiction để đưa ra advisory opinion.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như có lần &lt;a href=&quot;https://plus.google.com/112488760986970926997/posts/fd5c9qkovFi&quot;&gt;phân tích trước đây&lt;/a&gt;, VN đã từng &quot;tham lam&quot; claim EEZ cho tất cả các đảo thuộc HS-TS. Tuy nhiên sau khi công nhận UNCLOS năm 1994 và chính thức nộp bản đồ giới hạn thềm lục địa cho &lt;a href=&quot;http://www.un.org/depts/los/clcs_new/submissions_files/submission_vnm_37_2009.htm&quot;&gt;CLCS&lt;/a&gt;&amp;nbsp;năm 2009, VN đã chính thức từ bỏ những claim trái với UNCLOS này. Ngược lại cho đến thời điểm này TQ vẫn lập lờ về vấn đề thềm lục địa, không khẳng định cũng không từ bỏ EEZ của các đảo trên Biển Đông mà họ claim hoặc đang chiếm đóng. Rất có thể TQ làm như vậy vì họ âm mưu độc chiếm toàn bộ Biển Đông trong đường lưỡi bò, nhưng cũng có thể TQ bị &quot;há miệng mắc quai&quot; vì đã claim đường lưỡi bò trước đây và bây giờ khó có thể rút lại mà không làm dân TQ nổi giận. Nếu vậy có thể một phán quyết của ITLOS bác bỏ EEZ của các đảo trên Biển Đông sẽ có lợi cho&amp;nbsp;tất cả các bên kể cả TQ. Theo tôi đây là phương án &quot;legal action&quot; khả thi nhất mà VN có thể làm trong điều kiện chính trị ngoại giao hiện tại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;Legal Actions liên quan đến đánh bắt cá&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người VN không ai không căm phẫn khi tàu TQ đâm chìm hoặc phá hỏng các tàu đánh cá nhỏ của ngư dân VN. Nếu VN có bằng chứng những hành động này phía TQ thực hiện bên trong EEZ của mình và bên ngoài 12 hải lý quanh các đảo HS-TS mà TQ đang chiếm đóng thì VN có thể kiện việc này ra Hội đồng bảo an LHQ như một hành động xâm lăng (aggression) theo ngôn từ của Stein Tonnesson. Thậm chí nếu những hành động này gây thiệt hại nhân mạng VN có thể khởi kiện tại International Criminal Court về hành động thảm sát dân thường của TQ. Tương tự như vậy vụ TQ xả súng bắn các chiến sĩ công binh VN không có khả năng tự vệ trên đảo Gạc Ma 1988, mà theo &lt;a href=&quot;http://usdailyreview.com/the-massacre-not-heard-around-the-world/&quot;&gt;James Zumwalt&lt;/a&gt; - một nhà ngoại giao Mỹ - là một vụ thảm sát (massacre) cũng có thể bị VN đem ra ICC kiện. Tuy nhiên lôi một nước láng giềng, mà lại là TQ, ra ICC kiện về tội xâm lăng hay thảm sát chắc chắn không khả thi trong hoàn cảnh hiện tại. Ở đây tôi xin đưa ra một giải pháp khác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo Article 116 Part VII UNCLOS, tất cả các nước được quyền đánh bắt cá trên vùng biển quốc tế (High Sea), nghĩa là vùng biển nằm ngoài EEZ của các nước có bờ biển liên quan. Như vậy nếu tất cả các đảo thuộc HS-TS không có EEZ, một phần của Biển Đông sẽ được coi là High Sea. Phần đáy biển bên dưới High Sea gọi là The Area được UNCLOS qui định thuộc về toàn bộ nhân loại (Humanity). Tất cả tài nguyên dưới đáy biển (khoáng sản, dầu khí) trong The Area sẽ do một tổ chức quốc tế (&lt;a href=&quot;https://plus.google.com/112488760986970926997/posts/JLyaRfEn2hU&quot;&gt;International Seabed Authority&lt;/a&gt;) quản lý, còn việc đánh bắt hải sản (living resources) trong High Sea và The Area sẽ do các tổ chức đánh bắt hải sản khu vực (&lt;a href=&quot;http://en.wikipedia.org/wiki/Regional_fisheries_management_organisation&quot;&gt;Reasonal Fisheries Management Organizations&lt;/a&gt;&amp;nbsp;- RFMO) cấp phép và điều phối.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hiện tại chưa có một RFMO nào cho khu vực Biển Đông. Như vậy legal action đầu tiên mà VN có thể tiến hành là yêu cầu TQ và các nước có liên quan, không chỉ các nước có bờ biển quay ra Biển Đông mà cả các nước có khả năng sẽ tiến hành đánh cá ở khu vực High Sea trên Biển Đông (Úc, Nhật, Hàn quốc, Đài Loan, Ấn Độ ...), tiến hành đàm phán lập ra một RFMO cho khu vực theo tinh thần UNCLOS. TQ vẫn thường rêu rao đề nghị các nước gác lại tranh chấp để cùng nhau khai thác tài nguyên, đề nghị thành lập RFMO này đúng theo tinh thần hợp tác đó nhưng sẽ làm khó cho TQ. Lý do là tháng 12/2013 chính quyền đảo Hải Nam đưa ra một qui định đánh cá bao trùm toàn bộ đường lưỡi bò mà &lt;a href=&quot;http://thediplomat.com/2014/01/chinas-new-fishing-regulations-an-act-of-state-piracy/&quot;&gt;Carl Thayer&lt;/a&gt; gọi là một bộ luật cướp biển nhà nước. Vùng biển mà Hải Nam sẽ quản lý bao trùm tất cả những vùng có thể coi là High Sea trên Biển Đông theo qui định UNCLOS. Nếu TQ chấp nhận ngồi vào đàm phán thành lập RFMO nghiễm nhiên qui định đánh cá của Hải Nam vô tác dụng và đường lưỡi bò coi như không có giá trị.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Do đó nhiều khả năng TQ sẽ không chịu tham gia thành lập RFMO, điều này sẽ là bằng chứng cho thấy TQ không hề muốn hợp tác theo luật lệ quốc tế. Nếu vậy legal action thứ hai VN có thể thực hiện là kiện bộ luật quản lý đánh cá của Hải Nam ra một tòa trọng tài đặc biệt (Special Arbitration) theo khoản 1(d) Điều 287 và Annex VIII. Đây là một cách lách Điều 298 vì theo qui định TQ chỉ được opt-out khỏi các tranh chấp liên quan đến ranh giới biển chứ không loại trừ các tranh chấp liên quan đến đánh cá. Một nội dung khác VN có thể đưa vào vụ kiện này (bên cạnh luật đánh cá của Hải Nam) là những vụ TQ bắt giữ tàu cá của ngư dân VN và yêu cầu tiền chuộc. Theo Robert Beckman điều 298 không áp dụng cho trường hợp này nên dù TQ có opt-out họ vẫn có nghĩa vụ phải ra tòa theo qui định UNCLOS nếu VN khởi kiện.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;Binding Codes of Conducts&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Legal action cuối cùng mà tôi nghĩ có thể khả thi là tiến hành đàm phán COC giữa các nước liên quan đến tranh chấp trên Biển Đông, trong hoặc ngoài khuôn khổ của ASEAN. Trong thời gian gần đây chính TQ đã tuyên bố muốn khởi động đàm phán COC, VN nên chính thức đưa ra một kế hoạch đàm phán cụ thể và yêu cầu tất cả các nước liên quan không có hành động tạo căng thẳng trong quá trình đàm phán. TQ sẽ không có cớ gì để lẩn tránh đề nghị này nhưng&amp;nbsp;nhiều khả năng sẽ đưa đường lưỡi bò ra để gây khó dễ. Đây sẽ là điểm khó nhằn cho VN và các nước liên quan, nếu chấp nhận đưa vấn đề đường lưỡi bò vào đàm phán thì vô hình chung chấp nhận vùng biển bên trong đường lưỡi bò đang bị tranh chấp, một điều phi lý và bất công. Nhưng nếu không chấp nhận thì sẽ không xúc tiến đàm phán được và TQ sẽ không chịu công nhận các vùng EEZ chồng lấn của VN và các nước khác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tất nhiên vấn đề này sẽ dễ thở hơn nhiều nếu Philippines thắng trong vụ kiện tại PCA hiện tại hoặc VN đưa vấn đề đánh giá EEZ các đảo HS-TS ra ITLOS. Chưa kể đó là các con bài đàm phán, khi đối mặt với các vụ kiện/legal actions TQ sẽ có incentive ký COC sớm với các nước liên quan trước khi bị một phiên tòa quốc tế ra phán quyết bất lợi cho mình vì như vậy sẽ mất thế khi đàm phán COC. Cá nhân tôi cho rằng đạt được một COC công bằng và theo tinh thần UNCLOS sẽ là một thắng lợi cho VN, những legal actions tôi liệt kê bên trên chủ yếu để giúp đạt được mục tiêu này. Chúng ta cần phải chấp nhận một thực tế là TQ sẽ không chịu nhả HS-TS với bất cứ giá nào. Kiện TQ ra ICJ về chủ quyền HS-TS vô cùng khó khăn và chưa chắc đã đạt được kết quả mong đợi. Trong khi ranh giới biển và quyền khai thác tài nguyên trong EEZ của mình đã được qui định cụ thể trong UNCLOS, chủ quyền đảo phải phân xử theo common laws không có gì trói buộc với TQ. Khác với 3 tháng trước đây, quan điểm hiện tại của tôi giống của GS Phạm Quang Tuấn: VN nên gác lại vấn đề chủ quyền HS-TS.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nói vậy không có nghĩa VN từ bỏ vĩnh viễn chủ quyền ở hai quần đảo này. Việc gác lại vấn đề chủ quyền để ký COC theo tinh thần UNCLOS sẽ chứng tỏ cho thế giới thấy một nước VN có hành xử văn minh, biết tuân thủ luật pháp quốc tế và sẵn sàng hợp tác vì hòa bình và lợi ích của các nước trong khu vực. Vấn đề chủ quyền là thiêng liêng, nhưng chúng ta còn có những mục tiêu khác quan trọng không kém, vd đưa VN trở thành một quốc gia thịnh vượng và dân chủ. Mà chắc chắn chúng ta phải đạt được những điều đó trước khi hoàn thành giấc mơ &quot;&lt;a href=&quot;https://www.facebook.com/dongphung.viet.5/posts/127697914059807&quot;&gt;Sang năm tới Hoàng Sa&lt;/a&gt;&quot;&amp;nbsp;của mọi người dân VN.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;02/09/2014&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;</description><link>http://kinhtetaichinh.blogspot.com/2014/09/vietnam-vs-china.html</link><author>noreply@blogger.com (Anonymous)</author><thr:total>3</thr:total></item><item><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4568422884507290858.post-4171315773717966481</guid><pubDate>Mon, 28 Jul 2014 01:51:00 +0000</pubDate><atom:updated>2015-10-30T22:04:01.567+10:00</atom:updated><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">China</category><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">HS-TS</category><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">Law</category><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">Philippines</category><title>Philippines vs China</title><description>&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Có lẽ một trong những lý do quan trọng đến giờ này VN vẫn không/chưa &quot;kiện&quot;&lt;a href=&quot;https://www.blogger.com/blogger.g?blogID=4568422884507290858#n1&quot;&gt;[1]&lt;/a&gt; TQ ra một tòa án quốc tế là VN đang chờ kết quả vụ kiện của Philippines. Rất có thể lãnh đạo VN đang hi vọng Philippines sẽ thắng vụ kiện này để VN có thể &quot;ăn theo&quot; mà không phải trực tiếp đối đầu với &quot;ông anh cộng sản&quot; của mình. Quả thực vụ kiện giữa Philippines và TQ sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến ván cờ trên Biển Đông, không chỉ trên mặt trận pháp lý giữa hai nước này. Rất tiếc thông tin chi tiết về vụ kiện ít được phổ biến ở VN&lt;a href=&quot;https://www.blogger.com/blogger.g?blogID=4568422884507290858#n2&quot;&gt;[2]&lt;/a&gt;&amp;nbsp;và ngay cả ở Philippines báo chí cũng đưa tin &lt;a href=&quot;https://plus.google.com/112488760986970926997/posts/TaS9cSxgUw6&quot;&gt;không chính xác&lt;/a&gt;. Tuy nhiên vụ kiện này được khá nhiều luật gia quốc tế quan tâm và bình luận vì nó vừa là một case rất thú vị vừa liên quan đến một điểm nóng trên thế giới. Trong bài này tôi sẽ &quot;múa rừu qua mắt các luật gia&quot; tổng kết lại một số thông tin tôi cóp nhặt được về vụ kiện, chủ yếu từ các nguồn quốc tế, và đưa ra một số nhận định cá nhân về tác động của nó với cuộc đối đầu Việt-Trung trên BĐ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;Giải quyết tranh chấp theo UNCLOS&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trước khi nói về vụ kiện &lt;a href=&quot;http://www.pca-cpa.org/showpage.asp?pag_id=1529&quot;&gt;Philippines vs China&lt;/a&gt;&amp;nbsp;(PvsC) cần nhắc lại một số qui định của UNCLOS về vấn đề giải quyết tranh chấp giữa các thành viên. Theo &lt;a href=&quot;http://www.un.org/depts/los/convention_agreements/texts/unclos/part15.htm&quot;&gt;Article 287 (Section 2, Part XV)&lt;/a&gt; thành viên UNCLOS có 4 phương án giải quyết tranh chấp: (a) ITLOS (&lt;a href=&quot;http://www.un.org/depts/los/convention_agreements/texts/unclos/annex6.htm&quot;&gt;Annex VI&lt;/a&gt;), (b) ICJ, (c) tòa trọng tài theo &lt;a href=&quot;http://www.un.org/depts/los/convention_agreements/texts/unclos/annex7.htm&quot;&gt;Annex VII&lt;/a&gt;, (d) một tòa trọng tài đặc biệt theo Annex VIII (cho các tranh chấp liên quan đến đánh cá, môi trường, nghiên cứu khoa học, giao thông hàng hải)&lt;a href=&quot;https://www.blogger.com/blogger.g?blogID=4568422884507290858#n3&quot;&gt;[3]&lt;/a&gt;. Sau khi phê chuẩn công ước, các thành viên có quyền chọn một (hoặc nhiều hơn) trong 4 phương án giải quyết tranh chấp nói trên. Nếu một thành viên chưa tuyên bố lựa chọn, hình thức trọng tài (phương án c) sẽ được áp dụng khi có tranh chấp phát sinh. Vì tất cả các nước liên quan đến tranh chấp BĐ-HS-TS chưa tuyên bố chọn phương án giải quyết tranh chấp nên phương án (c) là giải pháp duy nhất.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Liên quan đến việc giải quyết tranh chấp, điều khoản này của UNCLOS vừa rất chặt chẽ nhưng cũng vừa rất lỏng lẻo. Rất chặt vì nó qui định mọi tranh chấp liên quan đến UNCLOS đều buộc phải đem ra phân xử (compulsory settlement) theo một trong bốn phương án nói trên&amp;nbsp;nếu hai bên không tự đàm phán được với nhau. Ngay cả trong trường hợp một bên tranh chấp không chịu đem ra phân xử tại tòa, bên còn lại vẫn có thể khởi kiện và tòa hoặc trọng tài vẫn có thể phán xử dù chỉ có một bên tham gia. Phán quyết của tòa hoặc trọng tài, bất kể cả hai bên tham gia hay chỉ có một bên kiện còn bên kia tẩy chay như vụ PvsC hiện tại, sẽ là phán quyết cuối cùng (final) và bắt buộc (binding). Nghĩa là sau khi tòa hoặc trọng tài đã đưa ra phán quyết các bên không thể kháng án và có nghĩa vụ phải thi hành để tuân thủ cam kết với UNCLOS&lt;a href=&quot;https://www.blogger.com/blogger.g?blogID=4568422884507290858#n4&quot;&gt;[4]&lt;/a&gt;.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rất lỏng lẻo, hay nói chính xác hơn là UCLOS đã mở một cửa hậu cho các thành viên né các qui định chặt chẽ bên trên, vì theo Article 298 sau khi trở thành thành viên các nước có quyền tuyên bố miễn trừ (opt-out) các qui định bắt buộc trong Article 287 cho 3 loại tranh chấp: (a) liên quan đến phân chia ranh giới biển theo điều 15, 74, và 83, (b) liên quan đến cách hoạt động quân sự, tuần tra biển, (c) liên quan đến các phán quyết của Hội đồng Bảo an LHQ. Điều này có nghĩa là một thành viên không thể kiện một thành viên khác nếu tranh chấp rơi vào một trong 3 lĩnh vực nói trên và phía bị kiện đã tuyên bố opt-out trước đó. Trên thực tế rất nhiều nước đã opt-out, vd&amp;nbsp;Australia,&amp;nbsp;Canada, India, Denmark, France, Italy, Mexico, Norway, Korea, Russia, Spain, Thailand, UK. Mỹ chưa phê chuẩn UNCLOS nhưng nếu có nhiều khả năng cũng sẽ opt-out.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tôi không rõ lịch sử của Article 298 này thế nào, có lẽ trong quá trình đàm phán UNCLOS các cường quốc biển đã đưa điều khoản này vào để tránh bị vướng vào kiện tụng sau này vì họ đã/đang tuyên bố chủ quyền với những vùng biển/đảo có khả năng bị tranh chấp cao (vd UK muốn bảo vệ claim với mỏm đá &lt;a href=&quot;http://en.wikipedia.org/wiki/Rockall&quot;&gt;Rockall&lt;/a&gt;, Mỹ với quần đảo &lt;a href=&quot;http://en.wikipedia.org/wiki/Howland_and_Baker_Islands&quot;&gt;Howland and Baker&lt;/a&gt;, Đan mạch với đảo Greenland). Có thể thấy hầu hết các nước opt-out là những quốc gia lớn, có thực lực đủ để tranh chấp và bảo vệ biển đảo của mình, trong khi những nước opt-in là những nước nhỏ/yếu thế phải dựa vào các biện pháp pháp lý. Trường hợp TQ khá thú vị, nước này phê chuẩn UNCLOS năm 1996 nhưng phải 10 năm sau (2006) mới tuyên bố opt-out. Rất có thể trong 10 năm đầu TQ còn cân nhắc khả năng kiện Nhật về quần đảo Senkaku (nước nào đã opt-out sẽ mất quyền khởi kiện), nhưng sau này TQ đã đủ mạnh và cho rằng bảo đảm quyền lợi trên Biển Đông quan trọng hơn nên đã opt-out để tránh bị kiện tụng. Tôi đoán Philippines đã rất nuối tiếc không kiện TQ trước năm 2006.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;Đánh giá của giới luật gia quốc tế về PvsC&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chính vì TQ đã opt-out theo Article 298, một số luật gia cho rằng Philippines không thể kiện. GS luật biển &lt;a href=&quot;http://www.voanews.com/content/philippines-to-forge-ahead-with-sea-dispute-arbitration/1607849.html&quot;&gt;Myron Nordquist&lt;/a&gt; (UVA) cho rằng vụ kiện PvsC &quot;bizarre&quot; (kỳ quái) và &quot;futile&quot; (không đi đến đâu). GS &lt;a href=&quot;http://opiniojuris.org/2013/05/21/the-first-serious-defense-chinas-position-on-the-philippines-unclos-arbitration/&quot;&gt;StefanTalmon&lt;/a&gt; (Uni of Bonn) khẳng định PCA không có thẩm quyền phân xử (jurisdiction) vì đây là tranh chấp giới hạn biển theo các điều 15, 74, 83 mà TQ đã opt-out&lt;a href=&quot;https://www.blogger.com/blogger.g?blogID=4568422884507290858#n5&quot;&gt;[5]&lt;/a&gt;. Tuy nhiên GS&lt;a href=&quot;http://opiniojuris.org/2013/02/21/is-the-philippines-arbitration-claim-against-china-bizarre-and-futile/#comments&quot;&gt; Julian Ku&lt;/a&gt;&amp;nbsp; (Hafstra University) không đồng ý với Nordquist và Talmon, ông đã chỉ ra rằng khi phê chuẩn UNCLOS TQ dù có opt-out hay không cũng đã chấp nhận Part XV và Annex VII. Mà theo Article 288(4) chỉ có hội đồng trọng tài mới có quyền đánh giá liệu những điểm Philippines khởi kiện có được miễn trừ vì tuyên bố opt-out của TQ hay không. Nói cách khác TQ, nếu tuân thủ đúng cam kết như một thành viên UNCLOS, buộc phải tham dự phiên tòa rồi cãi rằng tôi đã opt-out nên đề nghị tòa ngừng xử. Hành vi tẩy chay hoàn toàn phiên tòa như TQ đang làm là trái với qui định của UNCLOS&lt;a href=&quot;https://www.blogger.com/blogger.g?blogID=4568422884507290858#n6&quot;&gt;[6]&lt;/a&gt;.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
GS &lt;a href=&quot;http://cil.nus.edu.sg/wp/wp-content/uploads/2009/09/Beckman-Bernard-Paper-DAV-Conf-3-5-Nov-2011.pdf&quot;&gt;Robert Beckman&lt;/a&gt;&amp;nbsp;(NUS)&lt;a href=&quot;https://www.blogger.com/blogger.g?blogID=4568422884507290858#n7&quot;&gt;[7]&lt;/a&gt;&amp;nbsp;từ năm 2011&amp;nbsp;và GS&amp;nbsp;&lt;a href=&quot;http://harryroque.com/2013/01/25/understanding-our-unclos-arbitral-submission-2/&quot;&gt;Harry Roques&lt;/a&gt;&amp;nbsp;(University of the Philippines)&amp;nbsp;cũng lập luận tương tự. Một câu hỏi đặt ra là tại sao TQ lại hành xử như vây? GS &lt;a href=&quot;http://www.atimes.com/atimes/World/WOR-02-030913.html&quot;&gt;Alex Calvo&lt;/a&gt; (European University) đưa ra một số lý do giải thích việc TQ không muốn ra tòa. Thứ nhất TQ luôn muốn đàm phán song phương để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ, chiến thuật bẻ nắm đũa mà nhiều người đã chỉ ra. Khi ký&amp;nbsp;&lt;a href=&quot;http://www.asean.org/asean/external-relations/china/item/declaration-on-the-conduct-of-parties-in-the-south-china-sea&quot;&gt;DOC với ASEAN&lt;/a&gt;&amp;nbsp;năm 2002 TQ đã đạt được mục tiêu đưa yêu cầu đàm phán song phương vào DOC. Do vậy họ cho rằng Philippines đã vi phạm DOC khi lôi vụ việc ra tòa. Thứ hai với lịch sử từng là một cường quốc rồi bị phương Tây &quot;làm nhục&quot;, TQ không muốn phải tuân lệnh một tòa án phương Tây. Năm 1947 chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đã từng từ chối Pháp đem tranh chấp HS ra một trọng tài quốc tế cũng vì tâm lý đó. Thứ ba bản thân TQ hiểu đường 9 đoạn của mình không phù hợp với luật pháp quốc tế và nếu một phán quyết được đưa ra nhiều khả năng sẽ không có lợi cho TQ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy nhiên những lý do nói trên không đủ giải thích được tại sao TQ không tham gia vào vụ xử rồi biện luận tòa không có thẩm quyền (jurisdiction) vì mình đã opt-out. Julian Ku cho rằng mặc dù lập luận opt-out của TQ khá mạnh nhưng các cơ sở pháp lý khác của TQ, vd đường 9 đoạn, rất mập mờ. Bởi vậy theo tôi nếu TQ tham gia tranh tụng để rồi bác jurisdiction của tòa, TQ sẽ buộc phải làm rõ quan điểm và cơ sở pháp lý của những khái niệm tù mù mà họ vẫn rêu rao trước đó. Điều này có 2 điểm bất lợi cho TQ: có khá năng bị lật mặt là không phù hợp với luật pháp quốc tế và sẽ là tiền lệ để các nước khác đang có tranh chấp với TQ viện vào trong các vụ kiện sau này. Các lãnh đạo TQ cũng sợ rằng bản thân việc tham gia phiên tòa dù chỉ để cãi về jurisdiction cũng làm yếu đi vị thế của mình, ít nhất trong mắt dân TQ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng có lẽ lý do quan trọng nhất là TQ sợ thua ngay từ vòng tranh biện về jurisdiction. Một điểm rất quan trọng mà Robert Beckman đã chỉ ra là chính hội đồng xét xử/hội đồng trọng tài là người quyết định về jurisdiction của họ (điều 288). Tất nhiên các trọng tài quốc tế phải công tâm nhưng họ sẽ không tránh khỏi có bias nhất định. Theo qui định của Annex VII, mỗi bên tranh chấp được quyền đề cử một trong tài của mình rồi hai bên thỏa thuận 3 trọng tài trung lập và một người trong số đó sẽ là chủ tịch hội đồng. Nếu 2 bên không thỏa thuận được thì chủ tịch ITLOS sẽ đứng ra chỉ định. Vấn đề là chủ tịch hiện tại của ITLOS là &lt;a href=&quot;http://www.itlos.org/index.php?id=89&quot;&gt;Shunji Yanai&lt;/a&gt;,&amp;nbsp;một thẩm phán người Nhật. Trong bối cảnh tranh chấp Trung-Nhật cũng đang nóng, TQ có lý do để lo ngại thẩm phán Yanai sẽ chỉ định 3 trọng tài có lợi cho Philippines, vd thẩm phán Budislav Vukas, cựu phó chủ tịch ITLOS, một người có &lt;a href=&quot;http://www.itlos.org/fileadmin/itlos/documents/cases/case_no_11/decl.Vukas.E.pdf&quot;&gt;quan điểm chống lại EEZ&lt;/a&gt; cho các đảo/bãi đá. Vai trò của Shunji Yanai sẽ được phân tích thêm bên dưới.&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;
Cũng theo Beckman phạm vi opt-out trong Article 298 khá hạn chế, các thành viên vẫn có thể tìm những nội dung không bị giới hạn bởi điều 298 để kiện và do vậy TQ có thể sẽ không cãi được vấn đề jurisdiction và phải theo kiện đến cùng dù đã opt-out&lt;a href=&quot;https://www.blogger.com/blogger.g?blogID=4568422884507290858#n8&quot;&gt;[8]&lt;/a&gt;. Vậy chính xác Philippines, với một đội ngũ luật sư và chuyên gia luật quốc tế khá hùng hậu, đã kiện những nội dung nào và liệu những vấn đề đó có lách được điều 298 hay không? Theo LS &lt;a href=&quot;http://www.cnas.org/sites/default/files/SolGen%20Speech%20CNAS.pdf&quot;&gt;Francis Jardeleza&lt;/a&gt;, đại diện của chính phủ Philippines tại tòa trọng tài xử vụ PvsC, có 4 nội dung được đưa ra kiện: (i) đường 9 đoạn của TQ không có cơ sở pháp lý do vậy vô hiệu (invalid), (ii) một số bãi đá ngầm trong hoặc ngoài EEZ của Philippines không nằm trên thềm lục địa của TQ, do vậy dù TQ đã xây dựng các công trình nhân tạo trên đó TQ cũng không thể clain chủ quyền biển theo UNCLOS, (iii) một số bãi đá khác cao hơn mặt biển khi thủy triều cao nhất cũng chỉ là &quot;đá&quot; theo Ariticle 121 chứ không phải &quot;đảo&quot; nên chỉ được chủ quyền 12 hải lý, (iv) TQ đã ngăn cản bất hợp pháp các hoạt động đánh bắt cá ở những vùng biển TQ không có chủ quyền.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Không kể GS Stefan Talmon đã nhắc đến bên trên, theo Phó GS &lt;a href=&quot;http://www.ejiltalk.org/philippines-initiates-arbitration-against-china-over-south-china-seas-dispute/&quot;&gt;Dapo Akande&lt;/a&gt; (Oxford) mặc dù Philippines đã cố tình tránh không đề cập đến các phạm vi chủ quyền trên biển của họ và của TQ để lách điều 298, những nôi dung này không ít thì nhiều sẽ đụng chạm đến ranh giới biển. Do vậy Philippines không dễ thuyết phục được hội đồng trọng tài họ có jurisdiction. TS &lt;a href=&quot;http://www.jamestown.org/single/?tx_ttnews%5Btt_news%5D=42469&amp;amp;no_cache=1&quot;&gt;Ian Forsyth&lt;/a&gt; (Jamestown Foundation) cũng cho rằng hội đồng trọng tài có thể từ bỏ jurisdiction nếu TQ chứng minh được quan điểm các nội dung Philippines nêu ra có liên quan đến ranh giới biển, nghĩa là bị điều phối bởi điền 298. Một điểm nữa mà phía TQ đã nêu ra là Philippines phải có nghĩa vụ giải quyết song phương với TQ theo DOC 2002, việc kiện ra tòa như vậy rõ ràng vi phạm cam kết trong DOC và do vậy tòa không có jurisdiction. Ngoài ra theo chính UNCLOS Philippines phải có nghĩa vụ tìm cách đàm phán, hòa giải với TQ trước khi đi kiện. Dù Philippines tuyên bố họ đã tìm cách đàm phán với TQ trong 17 năm liên tục mà không có kết quả, tòa cũng có thể phủ quyết jurisdiction trên cơ sở Philippines chưa tìm mọi cách đàm phán song phương hoặc TQ đã/đang đề nghị Philippines quay lại bàn đàm phán nhưng Philippines từ chối.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khách quan mà nói lập luận của Philippines không hoàn toàn vững chắc và một phiên tòa công bằng rất có thể sẽ nghe theo biện hộ của phía TQ từ chối jurisdiction. Nhưng vấn đề là TQ đã tẩy chay phiên tòa ngay từ đầu nên trừ khi họ đổi ý hội đồng trọng tài sẽ chỉ nghe lập luận một phía&amp;nbsp;từ&amp;nbsp;Philippines. Tôi nghĩ rằng đây chính là tính toán của người Phi, họ tin chắc TQ sẽ không theo vụ kiện nên đã rất tự tin khởi kiện bất chấp sức ép/đe dọa của TQ. Đây cũng là nhận định của &lt;a href=&quot;http://www.lawfareblog.com/2014/06/litigation-tactics-from-the-china-philippine-south-china-sea-arbitration/&quot;&gt;Sean Mirski&lt;/a&gt; (Lawfare) cho rằng với Philippines quan trọng là chọn thời điểm và nơi kiện chứ không hẳn là các lập luận pháp lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;Tính toán của Philippines&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một nước cờ rất khôn ngoan của Philippines là đưa đường 9 đoạn vào hồ sơ kiện. Thoạt nhìn kiện đường 9 đoạn rõ ràng là một nội dung liên quan đến ranh giới biển, điều mà TQ đã opt-out. Tuy nhiên đường 9 đoạn là điểm yếu nhất về mặt pháp lý của TQ nên đưa nội dung này vào là một cách ngăn chặn TQ tham gia vụ kiện từ đầu. Cá nhân tôi cho rằng chính phủ TQ hiện &quot;há miệng mắc quai&quot; về vấn đề đường 9 đoạn. Họ biết cả về mặt lịch sử lẫn công pháp quốc tế TQ không thể biện hộ một cách thỏa đáng về claim này. Nhưng vì đã tuyên truyền quá nhiều trong quá khứ nên họ không dễ gì rút lại được mà không làm dân TQ nổi giận. Chiến thuật của các lãnh đạo TQ hiện nay là cứ đá quả bóng này cho những lớp lãnh đạo sau này giải quyết, trong khi cứ mù mờ về nó và tìm mọi cách tránh không phải giải thích gì với thế giới. Philippines hiểu điều này nên đã tin chắc TQ sẽ không theo kiện.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
TQ đã bỏ qua 2 mốc đầu tiên của vụ xử: 21/2/2013 (chỉ định trọng tài của mình) và 27/8/2013 (ý kiến về dự thảo qui trình phân xử). Ngày 15/12/2014 tới sẽ là mốc TQ phải nộp phản hồi của mình (memorial) về các lập luận của Philippines (đã nộp ngày 30/3/2014). Sau ngày này tòa sẽ tổ chức tranh biện (hearing) bất kể TQ có gửi phản hồi hay không. Nếu TQ chỉ gửi một Note Verbale với các lập luận y như những lần trước phủ nhận vụ kiện thì coi như Philippines đã thắng bước đầu. Trong vài tháng sau đó tòa sẽ thảo luận và ra quyết định vấn đề jurisdiction. Mặc dù thuần túy về mặt pháp lý lập luận của phía Philippines (các nội dung kiện không bị miễn trừ bởi TQ đã opt-out) chưa đủ mạnh như đã trình bày bên trên, một số yếu tố bên ngoài có thể sẽ giúp họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đầu tiên phải kể đến hình ảnh của TQ đã xấu đi đáng kể sau vụ đặt giàn khoan HD-981 trong EEZ của VN. Dù công tâm đến mấy các trọng tài cũng phải thấy mục đích và hậu quả của việc TQ opt-out theo điều 298 là để tạo thuận lợi cho chính sách bành trướng trên Biển Đông bất chấp pháp luật quốc tế. Thêm vào đó vấn đề đường 9 đoạn của TQ phi lý đến mức một học giả đã thốt lên nếu UNCLOS không loại bỏ được nó thì UNCLOS còn có thể làm được điều gì. Người này còn đi xa hơn cho rằng những nghị sĩ Mỹ có tư tưởng isolationism không muốn phê chuẩn UNCLOS sẽ viện dẫn sự bất lực của tòa án trong việc gạt bỏ đường 9 đoạn là lý do để Mỹ tiếp tục đứng ngoài hiệp ước này. UNCLOS đã từng bị Nga không đếm xỉa gì khi phớt lờ phán quyết của ITLOS trong vụ bắt giữ một chiếc tàu Greenpeace của Hà lan năm 2013, nếu lần này cũng bất lực với TQ thì công ước này thực sự vô tác dụng và có thể tan vỡ&lt;a href=&quot;https://www.blogger.com/blogger.g?blogID=4568422884507290858#n9&quot;&gt;[9]&lt;/a&gt;.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một đe dọa khác đến quyền lực của UNCLOS cũng xuất phát từ một quan điểm của TQ, nói chính xác hơn từ một số học giả bênh TQ, có thể thấy từ cuộc tranh luận &lt;a href=&quot;http://nautilus.org/napsnet/napsnet-policy-forum/the-south-china-sea-what-china-could-say/#axzz38ek2Q97q&quot;&gt;Mark Valencia vs Phạm Quang Tuấn&lt;/a&gt; (và sau đó thêm &lt;a href=&quot;http://nautilus.org/napsnet/napsnet-policy-forum/the-south-china-sea-evolution-of-or-disregard-for-international-law/#axzz38ek2Q97q&quot;&gt;Dương Danh Huy&lt;/a&gt; tham gia). Trong lập luận này (phe) TQ cho rằng đường 9 đoạn và khái niệm historical rights của TQ có từ trước khi UNCLOS ra đời. Bởi vậy việc phê chuẩn UNCLOS của TQ phải hiểu là có bao hàm loại trừ những vấn đề lịch sử trước đó, cũng có nghĩa việc opt-out theo điều 298 giúp cho TQ giữ các historical rights này. GS Phạm Quang Tuấn chỉ ra một điểm cực kỳ nguy hiểm của lập luận này, không chỉ với VN và các nước có tranh chấp trên Biển Đông mà còn với toàn bộ quyền lực cũng như mục đích của UNCLOS. Nếu công ước này phải xếp sau những historical rights thì điều này sẽ mở ra một &quot;Pandora&#39;s box&quot; với vô số các cuộc tranh giành đất đai, hải đảo giữa các nước. Điều này chắc chắn sẽ phá vỡ hoàn toàn một trật tự &quot;tương đối công bằng&quot; mà UNCLOS đang cố gắng thiết lập.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Yếu tố khách quan cuối cùng là việc chủ tịch ITLOS hiện tại là người Nhật như đã đề cập bên trên. Một trong 4 trọng tài được&amp;nbsp;Shunji Yanai chỉ định ban đầu là thẩm phán Pinto người Sri Lanka đã phải từ chức vì &lt;a href=&quot;http://www.japantimes.co.jp/opinion/2013/08/15/commentary/world-commentary/a-political-maelstrom-in-the-south-china-sea/&quot;&gt;vợ ông là người Philippines&lt;/a&gt;&amp;nbsp;cho thấy Yanai có thể đã nghiêng về phía Philippines khi chỉ định thẩm phán này. Người thay thế thẩm phán Pinto là cựu chủ tịch ITLOS Thomas Mensah (Ghana) và ba trọng tài còn lại từ Pháp, Ba Lan và Hà lan khó đánh giá mức độ trung lập nhưng tôi nghi ngờ Yanai chọn ai đó thân hoặc có quan điểm ủng hộ TQ. Còn trọng tài thứ năm do Philippines chỉ định, Rudiger Wolfrum người Đức, chắc sẽ ủng hộ phía Philippines. TQ có vẻ cũng thấy bị bất lợi nên đã ra sức PR, thậm chí đẩy&amp;nbsp;&lt;a href=&quot;http://www.icj-cij.org/court/?p1=1&amp;amp;p2=2&amp;amp;p3=1&amp;amp;judge=170&quot;&gt;Xue Hanqui&lt;/a&gt;, một thẩm phán người TQ tại ICJ, &lt;a href=&quot;http://opiniojuris.org/2013/11/20/chinas-icj-judge-xue-hanqin-publicly-defends-chinas-non-participation-unclos-arbitration/&quot;&gt;lên tiếng&lt;/a&gt; bảo vệ quan điểm opt-out của TQ dù đây là &lt;a href=&quot;http://harryroque.com/2013/11/21/the-chinese-view-on-the-philippine-arbitration-on-the-west-philippine-sea/&quot;&gt;điều tối kị&lt;/a&gt; với một thẩm phán quốc tế. Nhà báo&amp;nbsp;Chito Sta. Romana (Philippines) đã từng lo ngại thẩm phán TQ Gao Zhiguo tại ITLOS sẽ ảnh hưởng lên quyết định của các trọng tài khác, tôi nghĩ Shunji Yanai chắc chắn có tiếng nói và ảnh hưởng lớn hơn Gao Zhiguo hay Xue Hanqui.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tóm lại về mặt tổng thể tôi cho rằng cán cân đang ngả về phía Philippines, cả trong cuộc chiến thuyết phục hội đồng trọng tài về jurisdiction lẫn những nội dung kiện sau đó. Tất nhiên đường còn dài và có thể có nhiều bất ngờ xảy ra. Một đe dọa cho Philippines (và cả VN) như GS Alex Calvo lo ngại là TQ có thể sẽ rút khỏi UNCLOS khi bị dồn vào chân tường và lu loa lên họ bị phương Tây xử ép. Đây có thể là một trong những kết cục của vụ kiện này mà tôi sẽ phân tích trong phần dưới đây.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;Những kết cục có thể xảy ra&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phương án đầu tiên là Philippines thua ngay từ &quot;vòng gửi xe&quot;, nghĩa là đầu năm 2015 tòa tuyên bố họ không có jurisdiction và giải tán. Hiển nhiên đây sẽ là một cú tát với Philippines và cả VN, đập tan mọi khả năng/ý chí kiện tụng chống lại TQ sau này bằng con đường pháp lý. TQ có thể sẽ thừa thắng xông lên hung hăng hơn trên Biển Đông đuổi dần các nước khác ra khỏi đường 9 đoạn. Nếu VN và Philippines bị đẩy vào bước đường cùng có thể một liên minh quân sự sẽ được thành lập với Nhật, Mỹ và có thể Ấn độ, Úc đúng đằng sau hoặc trực tiếp tham gia. Một cuộc chạy đua vũ trang sẽ diễn ra giữa các nước trong vùng với TQ. Rủi ro đụng độ quân sự tăng lên sẽ làm ngưng trệ các hoạt động kinh tế trên Biển Đông và ảnh hưởng các tuyến hàng hải trên đó. Đây sẽ là phương án lose-lose cho cả hai phía.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tôi nghĩ TQ sẽ thừa đủ khôn ngoan để không đẩy các đối thủ của mình vào chân tường dù giành thắng lợi trong vụ kiện. Nhiều khả năng TQ nhân đà chiến thắng sẽ ép VN/Philippines và các nước ASEAN ký một COC với nhiều điều kiện có lợi hơn cho TQ. Song song với COC TQ sẽ ép VN và Philippines ký các hiệp định song phương phân chia EEZ rất có lợi cho họ và/hoặc các thỏa thuận khai thác chung mà TQ sẽ được phần lợi nhiều nhất. Tất nhiên TQ cũng thừa khôn ngoan không ép VN và Philippines từ bỏ claim chủ quyền với HS-TS mà sẽ yêu cầu giữ status quo sau khi đã đạt được các thỏa thuận kinh tế. Kịch bản này dễ xảy ra với VN hơn, Philippines với một thể chế dân chủ và ít ra còn dựa được vào Mỹ sẽ khó bị thuyết phục/đe dọa như VN.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cũng tương tự như vậy nếu Philippines thắng vòng tranh tụng jurisdiction nhưng thua toàn bộ các nội dung kiện thì TQ sẽ lấn tới như phương án đầu. Điểm khác biệt duy nhất là cửa kiện tụng không hoàn toàn đóng lại với cả Philippines lẫn VN, bởi vậy TQ sẽ khó ép hơn. Tuy nhiên, như đã phân tích bên trên, cả hai phương án này đều làm suy yếu uy tín và quyền lực của UNCLOS nên triển vọng kiện tụng sau này sẽ rất mù mờ, phương án lôi TQ ra kiện về chủ quyền HS-TS tại ICJ có khó khăn hơn nữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phương án tiếp theo là Philippines thắng vòng tranh tụng jurisdiction rồi thắng luôn toàn bộ hoặc một số nội dung kiện. Thừa thắng xông lên cả Philippines và VN sẽ lôi TQ ra ICJ kiện về chủ quyền HS-TS, đồng thời ASEAN sẽ đưa ra một phương án COC vô cùng bất lợi cho TQ. Như đã đề cập bên trên TQ có thể phản ứng rất cực đoan rút khỏi UNCLOS, DOC 2002, đồng thời gia tăng những hoạt động đe dọa chủ quyền VN và Philippines vì không còn bị rằng buộc gì. Phương án này cũng sẽ dẫn đến một cuộc chạy đua vũ trang và khả năng hình thành liên minh quân sự đối đầu với TQ. Căng thẳng leo thang sẽ là một tình huống lose-lose như phương án đầu tiên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nên nhớ TQ là một nước lớn nên việc &quot;giữ thể diện&quot; quan trọng đối với họ. Tôi cho rằng phương án tốt nhất cho Philippines (và VN được &quot;ăn theo&quot;) là Philippines chỉ thắng nội dung (i) về đường 9 đoạn. Trong đó tòa tuyên bố đường 9 đoạn không phù hợp với bất kỳ điều khoản nào của UNCLOS nên yêu cầu TQ không được sử dụng nó trong các cuộc đàm phán về ranh giới biển với các nước láng giềng. Điều này tưởng như đã vi phạm vào nội dung mà TQ đã opt-out nhưng thực ra không phải vậy. Tòa vẫn tôn trọng nội dung opt-out của TQ và yêu cầu các nước phải đàm phán song phương với TQ về vấn đề ranh giới biển, trong đó có phân chia EEZ trồng lấn. Nhưng tòa tuyên bố các claim hiện nay của TQ về historical rights không có giá trị nên đường 9 đoạn coi như không hiện hữu theo UNCLOS. Thực ra đây có thể là lối thoát cho các lãnh đạo TQ rũ bỏ được legacy của đường 9 đoạn mà không bị mang tiếng là đầu hàng ASEAN và phương Tây.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phương án cuối cùng mà cũng rất có khả năng xảy ra là Philippines thắng vòng tranh tụng jurisdiction rồi dừng lại. Nên nhớ Philippines chấp nhận bỏ tiền bạc, công sức, và nhất là căng thẳng với TQ khi khởi kiện hoàn toàn vì quyền lợi của họ chứ không phải vì VN hay các nước ASEAN khác. Bởi vậy nếu TQ nhượng bộ nhả bớt một số quyền lợi cho Philippines thì nước này có thể chấm dứt vụ kiện giữa chừng sau khi đạt được mục đích. TQ có thể sẽ &quot;đi đêm&quot; hoặc thỏa thuận công khai phân chia EEZ với Philippines, thậm chí ký hợp đồng cùng khai thác chung với phần ăn chia có lợi cho Philippines. Hai bên sẽ đồng ý gác lại vấn đề chủ quyền của các đảo và bãi đá ngầm đang tranh chấp. VN tất nhiên không &quot;ăn theo&quot; được gì trong phương án này trừ khi Philippines ép được TQ ký COC với ASEAN.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nếu phương án này xảy ra và TQ &quot;buông&quot; Philippines nhưng vẫn tiếp tục chèn ép VN, chúng ta chỉ còn một con đường lôi TQ ra kiện giống Philippines. Ngoại trừ lợi thế án lệ của PvsC sẽ có lợi cho phần tranh tụng jurisdiction, vụ kiện VN vs TQ sẽ khó khăn hơn vì TQ sẽ có nhiều bài hơn. Chắc chắn &quot;công hàm&quot; Phạm Văn Đồng 1958 sẽ bị lôi ra cùng nhiều chứng cứ khác. Lần này TQ cũng có thể theo vụ kiện ngay từ đầu với một giàn luật sư/chuyên gia mạnh để áp đảo VN trong phần tranh tụng. Kết quả khả quan nhất mà VN có thể đạt được nếu không muốn thua trắng là một thỏa thuận ngoài tòa để chấm dứt sớm vụ kiện như Philippines. Nhưng chắc chắn VN sẽ không đạt được nhiều nhượng bộ từ TQ như Philippines và cũng phải chấp nhận treo lại vấn đề chủ quyền HS-TS.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;Kết luận&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vụ kiện PvsC đã tạo ra một chấn động không chỉ trong giới luật gia mà cả vùng Đông-ĐNÁ. Nói theo GS Julian Ku đây là &quot;game charger&quot;, nghĩa là một cú hích có thể làm đổi hướng bức tranh BĐ-HS-TS trong khu vực và cả tranh chấp Senkaku giữa Nhật và TQ. Những liên minh mới có thể hình thành, những hiệp định mới có thể được ký kết, thậm chí đụng độ quân sự có thể xảy ra sau phán quyết của tòa trọng tài. Cho đến thời điểm này VN vẫn chơi bài &quot;wait and see&quot;, dù có thể vẫn đang âm thầm chuẩn bị hồ sơ khởi kiện nhưng lại rất hi vọng Philippines sẽ thắng tuyệt đối để mình được &quot;ăn theo&quot; mà không phải làm gì. Theo tôi đây không phải phương án tốt nhất cho VN. Chúng ta nên khởi kiện ngay cả trước khi trọng tài vụ PvsC tranh biện jurisdiction. Mục tiêu và cách thức kiện của VN có thể sẽ khác Philippines, đó là một &quot;mặt trận thứ hai&quot; cùng Philippines chống lại TQ.&amp;nbsp;Tôi sẽ là viết về vấn đề này trong một entry tới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;Ghi chú&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;https://www.blogger.com/null&quot; name=&quot;n1&quot;&gt;[1]&lt;/a&gt;: Tôi để chữ kiện trong ngoặc vì khái niệm này không đơn giản như đa số người Việt nghĩ. Tôi sẽ viết về vấn đề này trong một entry tiếp theo.&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;https://www.blogger.com/null&quot; name=&quot;n2&quot;&gt;[2]&lt;/a&gt;: Tôi chỉ tìm thấy hai bài tương đối chi tiết của trọng tài VN &lt;a href=&quot;http://www.thesaigontimes.vn/114881/Xung-dot-bien-dong--Tu-an-le-Philippines-kien-Trung-Quoc.html&quot;&gt;Châu Huy Quang&lt;/a&gt; trên TBKTSG và của nhà báo&amp;nbsp;&lt;a href=&quot;http://tuoitre.vn/The-gioi/614417/ai-cai-cho-philippines.html&quot;&gt;Danh Đức&lt;/a&gt; trên TT.&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;https://www.blogger.com/null&quot; name=&quot;n3&quot;&gt;[3]&lt;/a&gt;: Khác biệt quan trọng nhất giữa phương án xử tại một tòa cố định (ITLOS/ICJ) với tại một tòa trọng tài (Annex VII) là với tòa cố định hội đồng xét xử đã được định trước (vd ITLOS có 21 thẩm phán thường trực) trong khi các bên có thể chỉ định hội đồng trọng tài cho mình nếu xử theo Annex VII. Ngoài ra tòa án cố định đã có qui trình xử án chuẩn còn qui trình xử của trọng tài được 2 bên tranh chấp thỏa thuận sau khi hội đồng trọng tài được thành lập. Do vậy hai bên có thể thỏa thuận xử kín, không công bố thông tin và chi tiết phiên tòa, không như xử tại tòa án cố định luôn được công khai.&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;https://www.blogger.com/null&quot; name=&quot;n4&quot;&gt;[4]&lt;/a&gt;: &lt;a href=&quot;http://opiniojuris.org/2013/01/23/will-china-participate-in-the-unclos-arbitration-with-the-philippines/#comments&quot;&gt;Julian Ku&lt;/a&gt;, giáo sư luật tại Hafstra University, cho rằng ngay cả nếu TQ tham dự phiên tòa trọng tài tại PCA nước này vẫn có khả năng tuyên bố không chấp nhận phán quyết của hội đồng trọng tài nếu bị xử thua, nghĩa là phán quyến này không có tính chất binding. Lập luận này phù hợp với các phân xử trọng tài thông thường nhưng theo tôi không đúng trong trường hợp UNCLOS.&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;https://www.blogger.com/null&quot; name=&quot;n5&quot;&gt;[5]&lt;/a&gt;: Trong phần comment về bài của &lt;a href=&quot;http://opiniojuris.org/2013/05/21/the-first-serious-defense-chinas-position-on-the-philippines-unclos-arbitration/&quot;&gt;Stefan Talmon&lt;/a&gt;, Huy Duong (Dương Danh Huy?) đồng ý với lập luận của Talmon rằng tranh chấp giữa Philippines và TQ liên quan đến ranh giới biển. &lt;b&gt;Update&lt;/b&gt;: Anh Dương Danh Huy cho biết ý anh không phải như vậy, xem cụ thể trong phần comment bên dưới. &lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;https://www.blogger.com/null&quot; name=&quot;n6&quot;&gt;[6]&lt;/a&gt;: Mặc dù cả Annex VI lẫn Annex VII đều có qui định về trường hợp một bên không theo kiện, nhưng điều đó không có nghĩa UNCLOS cho phép thành viên được quyền tẩy chay một vụ kiện do một thành viên khác khởi xướng theo đúng điều 287.&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;https://www.blogger.com/null&quot; name=&quot;n7&quot;&gt;[7]&lt;/a&gt;: GS Robert Beckman có 2 bài, bài hoàn chỉnh link bên trên, một bài viết chi tiết hơn về UNCLOS ông yêu cầu không tự do trích dẫn nên tôi chỉ để &lt;a href=&quot;http://cil.nus.edu.sg/wp/wp-content/uploads/2011/12/Beckman_MIMA_SCS_Conference_12-13_Dec_2011_draft_10_Dec1.pdf&quot;&gt;link ở đây&lt;/a&gt; cho những ai quan tâm.&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;https://www.blogger.com/null&quot; name=&quot;n8&quot;&gt;[8]&lt;/a&gt;: GS Julian Ku cho rằng TQ có thể rời bỏ vụ xử giữa chừng sau khi tòa tuyên bố họ có jurisdiction. Tuy nhiên điều này còn gây tiếng xấu cho TQ hơn là không theo ngay từ đầu.&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;https://www.blogger.com/null&quot; name=&quot;n9&quot;&gt;[9]&lt;/a&gt;: TS &lt;a href=&quot;http://www.japantimes.co.jp/opinion/2013/08/15/commentary/world-commentary/a-political-maelstrom-in-the-south-china-sea/&quot;&gt;Mark Valensia&lt;/a&gt;&amp;nbsp;lại lập luận ngược lại. Ông này cho rằng nếu tòa chấp nhận jurisdiction và xử cho Philippines thắng thì UNCLOS sẽ mất uy tín vì kiểu gì TQ cũng sẽ không tuân lệnh tòa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;Update (29/10/2015)&lt;/b&gt;: PCA &lt;a href=&quot;http://opiniojuris.org/2015/10/29/breaking-unclos-tribunal-rules-against-china-unanimously-finds-it-has-jurisdiction-over-philippines-south-china-sea-claims/&quot;&gt;vừa ra phán quyết &lt;/a&gt;(100% thẩm phán bỏ phiếu thuận)&amp;nbsp;về jurisdiction cho vụ kiện này. Trong đó PCA cho rằng họ có jurisdiction phán xử 7 trong số 15 submissions của Philippines. Số submissions còn lại PCA sẽ xác định jurisdiction trong giai đoạn tranh biện lập luận (merit) của các bên, Philippines phải sửa lại một submission. Rất tiếc là submission số 1&amp;amp;2 về đường 9 đoạn nằm trong số những vấn đề PCA chưa quyết định jurisdiction.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;</description><link>http://kinhtetaichinh.blogspot.com/2014/07/philippines-vs-china.html</link><author>noreply@blogger.com (Anonymous)</author><thr:total>3</thr:total></item><item><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4568422884507290858.post-4566135615919207884</guid><pubDate>Wed, 09 Jul 2014 07:03:00 +0000</pubDate><atom:updated>2014-07-11T16:44:18.917+10:00</atom:updated><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">China</category><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">Geopolitics</category><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">HS-TS</category><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">Oil</category><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">Politics</category><title>Stein Tonnesson vs Pham Quang Tuan</title><description>&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Có ba nhóm học giả quốc tế chính nghiên cứu về BĐ-HS-TS. Thứ nhất là các chuyên gia về political science/international relation (vd Greg Austin, John Collins, Ang Cheng Guan, Jeanette Greenfield, Sam Bateman, Ralf Emmers), bao gồm cả các nhà Việt Nam học (Carl Thayer, Jonathan London). Thứ hai là các chuyên gia luật quốc tế (Robert Beckman, Monique Chemillier-Gendreau, Christopher Joyner, Erik Franckx, Choon Ho Park). Cuối cùng là các nhà sử học (David Marr, Marwyn Samuels, Philippe Devillers, Stein Tonnesson). Còn một nhóm thứ tư là các chuyên gia quân sự nhưng họ ít khi xuất đầu lộ diện. Tất nhiên phân chia như vậy chỉ là tương đối vì một chuyên gia có thể biết và viết về nhiều lĩnh vực, nhất là khi nghiên cứu về tranh chấp BĐ-HS-TS hầu như chuyên gia nào cũng đụng chạm đến lịch sử và công pháp quốc tế.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong ba nhóm nói trên nhóm đầu đông nhất và có nhiều bài vở nhất, nhưng họ phải thường xuyên trích dẫn secondary sources, nghĩa là họ phải dựa vào công trình của hai nhóm sau (luật và sử) là những người tiếp xúc và phân tích trực tiếp các bằng chứng primary (luật, án luật, tư liệu lịch sử, phỏng vấn nhân chứng...). Trong số các nhà sử học &lt;a href=&quot;http://www.prio.org/People/Person/?x=3478&quot;&gt;Stein Tonnesson&lt;/a&gt; là một cái tên được trích dẫn khá nhiều trong các bài nghiên cứu về BĐ-HS-TS gần đây. Ông là tác giả của hai quyển sách về lịch sử VN trong giai đoạn 1944-1946, là những công trình nghiên cứu công phu hàng chục năm (từ khi ông làm luận án thạc sĩ năm 1981), và hàng loạt bài viết về tranh chấp BĐ-HS-TS. Dù Tonnesson còn viết về Thailand và một số đề tài khác, có thể nói học giả này là một nhà sử học&amp;nbsp;+ Việt Nam học.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì là người &quot;ngoại đạo&quot; nên tôi chỉ biết đến tên Stein Tonnesson (ST) sau &quot;&lt;a href=&quot;https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=1430220267239378&amp;amp;id=100007542552795&quot;&gt;vụ Sam Bateman&lt;/a&gt;&quot;. Tôi đã cố gắng liên hệ với ông để hỏi ý kiến về HS-TS nhưng ông không/chưa trả lời. Sau khi Google rất kỹ cái tên này tôi tình cờ phát hiện ra một cuộc &lt;a href=&quot;http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/debate-u-shaped-map-qc-02072012162903.html&quot;&gt;tranh luận&lt;/a&gt; khá căng thẳng giữa Tonnesson và GS Phạm Quang Tuấn (PQT) từ năm 2011. Cuộc tranh luận này còn có sự tham gia của &lt;a href=&quot;http://levanut.wordpress.com/2011/11/18/phat-bi%E1%BB%83u-l%E1%BA%A1-d%E1%BB%9Di-c%E1%BB%A7a-hai-h%E1%BB%8Dc-gi%E1%BA%A3-v%E1%BB%81-d%C6%B0%E1%BB%9Dng-l%C6%B0%E1%BB%A1i-bo/&quot;&gt;TS Lê Văn Út&lt;/a&gt; (Phần lan) và Stein Tonnesson đã chủ động copy thư trao đổi với PQT/LVU cho GS Su Hao (Đại học Ngoại giao TQ). Toàn bộ các email tranh luận được đưa lên &lt;a href=&quot;http://www.inter.uadm.uu.se/ViewPage.action?siteNodeId=62437&amp;amp;languageId=1&amp;amp;contentId=-1&quot;&gt;website này&lt;/a&gt; (bản dịch tiếng Việt &lt;a href=&quot;http://to-quoc03.blogspot.com.au/2012/02/tranh-luan-giua-gs-pham-quang-tuan-va.html&quot;&gt;ở đây&lt;/a&gt;). Đọc kỹ cuộc tranh luận ST-PQT tôi lờ mờ hiểu tại sao Tonnesson không muốn tranh luận một lần nữa với một kẻ ngoại đạo như tôi. Chắc ông đã nhận ra rằng những người VN (hay Philippines, hay Malaysia) email cho ông chủ yếu để tìm sự ủng hộ quan điểm chống TQ mà ông luôn cố gắng giữ trung lập dù ông có thể có cảm tình với VN.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trước khi đi vào phân tích cuộc tranh luận có lẽ cần nói thêm về GS Stein Tonnesson, một người Na-uy có quan tâm về VN từ rất sớm trong sự nghiệp học thuật của mình. Quyển sách &lt;a href=&quot;http://asiapacific.anu.edu.au/newmandala/2010/05/10/review-of-vietnam-1946-tlcnmrev-vi/&quot;&gt;Vietnam 1946: How the war began&lt;/a&gt;&amp;nbsp;của ông xuất bản năm 2009 đã từng được trang web của &lt;a href=&quot;http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=10093&amp;amp;cn_id=375336&quot;&gt;Đảng Cộng Sản&lt;/a&gt; viết bài giới thiệu. Quyển sách này sau đó (2013) đã được nhà xuất bản Sự thật dịch sang tiếng Việt. Một bài review tiếng Việt rất công phu của tác giả &lt;a href=&quot;http://ta-la-was.blogspot.com.au/2010/08/vu-tuong-oc-viet-nam-1946-chien-tranh.html&quot;&gt;Vũ Tường&lt;/a&gt; trên Talawas cho thấy Vietnam 1946 được chính quyền VN hoan nghênh vì tác giả cho rằng phần lỗi lớn thuộc về phía Pháp đã gây ra cuộc chiến Việt-Pháp 1946-1954. Tonnesson còn tham gia khá nhiều hội thảo về VN, có một bài viết về &lt;a href=&quot;https://plus.google.com/112488760986970926997/posts/AQMstJBfgPS&quot;&gt;Hiến pháp 1946&lt;/a&gt; rất chi tiết. Gần đây nhất ông trả lời phỏng vấn báo &lt;a href=&quot;http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140610/vach-tran-luan-dieu-theo-duoi-trung-quoc.aspx&quot;&gt;Thanh Niên&lt;/a&gt;&amp;nbsp;về vụ tranh luận &lt;a href=&quot;http://www.eurasiareview.com/15052014-new-tensions-south-china-sea-whose-sovereignty-paracels-analysis/&quot;&gt;Sam Bateman&lt;/a&gt;-&lt;a href=&quot;http://www.eurasiareview.com/27052014-sovereignty-paracels-article-lets-beijing-lightly-analysis/&quot;&gt;Dương Danh Huy&lt;/a&gt;/&lt;a href=&quot;http://www.eurasiareview.com/05062014-haiyang-981-confrontation-danger-convoluting-everything-sovereignty-disputes/&quot;&gt;Phạm Quang Tuấn&lt;/a&gt;, tỏ ý chê Sam Bateman trong khi khen DDH/PQT.&amp;nbsp;Tóm lại tôi đánh giá đây là một học giả nước ngoài khá thân thiện với VN nếu không muốn nói có quan điểm &quot;bênh&quot; VN trong các nghiên cứu của mình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Quay lại cuộc tranh luận ST-PQT, chủ điểm xoay quanh vấn đề đường chữ U (đường 9 đoạn/lưỡi bò) mà TQ vẽ trên các bản đồ của mình từ năm 1947. Tại một hội thảo về Biển Đông tại HN tháng 11/2011 &lt;a href=&quot;http://levanut.files.wordpress.com/2011/11/111101-tonnesson-paper-hanoi-conf.pdf&quot;&gt;Stein Tonnesson&lt;/a&gt; lập luận rằng đường chữ U chỉ có thể hiểu theo nghĩa TQ muốn tuyên bố tất cả các đảo/bãi đá trong vùng biển bên trong chữ U này thuộc về TQ. Còn cách hiểu của đa số mọi người là TQ claim toàn bộ vùng biển giới hạn bởi đường chữ U là sai. GS Phạm Quang Tuấn cho rằng lập luận của Tonnesson &quot;chạy tội&quot; cho TQ và dẫn chứng quan điểm của một học giả TQ (&lt;a href=&quot;http://levanut.files.wordpress.com/2011/11/su-hao-and-ren-yuan-zhes-paper.doc&quot;&gt;GS Su Hao&lt;/a&gt;) cũng trong hội thảo đó cho thấy cách hiểu của TQ vẫn là nước này đòi hỏi chủ quyền cho toàn bộ Biển Đông chứ không phải chỉ có các đảo. Trong một bài phỏng vấn với &lt;a href=&quot;http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/debate-u-shaped-map-qc-02072012162903.html&quot;&gt;đài RFA&lt;/a&gt; sau đó GS Tuấn đã tỏ ý nghi ngờ Stein Tonnesson thiên vị TQ và TQ sẽ lợi dụng lập luận của ông để khẳng định chủ quyền của mình trên Biển Đông. Lập luận của GS Tuấn cũng tương tự như một bài báo của Philippines mà tôi&lt;a href=&quot;https://plus.google.com/112488760986970926997/posts/TaS9cSxgUw6&quot;&gt; trích dẫn&lt;/a&gt; mấy hôm trước.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đến đây cần làm rõ khái niệm đường chữ U là gì và giá trị pháp lý của nó như thế nào. Cho đến thời điểm cuộc hội thảo ở HN tháng 11/2011 TQ chỉ một lần duy nhất công bố chính thức bản đồ có đường chữ U cho một tổ chức quốc tế năm 2009 (trong Note Verbale phản đối &lt;a href=&quot;http://cil.nus.edu.sg/wp/wp-content/uploads/2009/09/Beckman-Davenport-CLCS-HCMC-10-12Nov2010-1.pdf&quot;&gt;CLSC Submission&lt;/a&gt; của VN và Malaysia) với ngôn ngữ rất mập mờ. TQ chưa bao giờ công bố tọa độ chính xác và nói rõ ý định của đường chữ U là gì mà chỉ nói chung chung họ có đầy đủ bằng chứng lịch sử về chủ quyền vùng biển bên trong chữ U. Tất nhiên TQ có chủ ý khi cố tình mập mờ như vậy để mọi người tự hiểu. Tuy nhiên các học giả quốc tế, nhất là các chuyên gia luật, khi phân tích các tranh chấp và giải pháp cho BĐ-HS-TS buộc phải giả định cơ sở pháp lý của đường chữ U thì mới đánh giá được TQ và các nước khác đúng hay sai. Ở đây cần nhấn mạnh các học giả đó (cả Tonnesson) đưa ra những giả định không có nghĩa họ ủng hộ hay phản đối claim của TQ về đường chữ U.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giả định của Tonnesson là TQ chỉ claim các đảo bên trong đường chữ U chứ không phải toàn bộ vùng biển đó được nhiều học giả đồng tình, bao gồm cả các học giả &quot;nghiêm túc&quot; người TQ như GS Zhiguo Gao. Đơn giản vì theo UNCLOS ranh giới trên biển không phụ thuộc vào historical rights là điều mà TQ vẫn rêu rao. Với giả định này Tonnesson đã thẳng thừng bác bỏ khả năng TQ có chủ quyền trên vùng biển bên trong chữ U, đây là quan điểm có lơi cho VN. Ngay trong bài viết cho hội thảo tại HN năm 2011 Tonnesson khẳng định vị trí tàu Bình Minh bị TQ cắt cáp nằm trong EEZ của VN cũng là hệ quả của giả định nói trên. Tương tự như vậy vị trí giàn khoan HD-981 hoàn toàn nằm trong EEZ của VN bất kể đảo Triton thuộc về ai nếu đảo này không có thềm lục địa và EEZ (nhiều khả năng như vậy).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rất tiếc GS Phạm Quang Tuấn và TS Lê Văn Út đã quá vội vàng phê phán giả định này của Tonnesson. Hơn thế nữa Tonnesson cho rằng trong khi TQ chưa chính thức công bố claim toàn bộ Biển Đông (đảo&amp;nbsp;+ biển bên trong chữ U) mà VN và các nước khác vội vã kết luận như vậy thì sẽ có lợi cho TQ vì lái dư luận quốc tế theo hướng ngầm hiểm toàn bộ Biển Đông đang bị tranh chấp. Thay vì tập trung vào việc giải quyết chủ quyền đảo HS-TS và các khu vực EEZ bị trồng lấn, các học giả VN bị cuốn vào cuộc tranh luận về đường chữ U mà chắc chắn sẽ không đi đến đâu. Lập luận của GS Tuấn rằng VN và các nước trong khu vực không thể bỏ qua vấn đề đường chữ U vì như vậy là ngầm chấp nhận nó cũng không chính xác. Một khi TQ chưa công bố rõ ràng đường chữ U là gì (claim, tọa độ) thì nó hoàn toàn không có cơ sở pháp lý trong các phiên tòa quốc tế.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cơ sở pháp lý cũng không thể được tuyên bố từ các bài nghiên cứu/phát biểu của các học giả TQ như GS Su Hao. Tôi đồng ý với GS Phạm Quang Tuấn là những người như Su Hao là &quot;mouthpiece&quot; của chính phủ TQ nhưng cần phân biệt các dạng tuyên truyền phi chính thức thông qua báo chí và học giả như TQ đang làm với tuyên bố chủ quyền chính thức từ chính phủ. Cho dù Su Hao và các học giả TQ khác có nói thế nào đi nữa đó chỉ là quan điểm cá nhân và chỉ có giá trị thông tin chứ không có giá trị pháp lý. Cho đến thời điểm này (7/2014) TQ vẫn chưa claim chính thức vùng biển trong đường chữ U. Bức thư gửi UN ngày 8/6/2014&amp;nbsp;&lt;a href=&quot;http://www.fmprc.gov.cn/mfa_eng/zxxx_662805/t1163264.shtml&quot;&gt;BNG TQ&lt;/a&gt; vẫn chỉ khẳng định giàn khoan HD-981 nằm ngoài vùng EEZ của VN còn các bài báo của các đại sứ TQ ở một số nước cũng chỉ tuyên bố địa điểm này nằm trong contiguous zone của đảo Triton. TQ không hề dựa vào đường chữ U để phản đối VN. Vậy nên ngay từ năm 2012 Tonnesson đã khuyên một việc VN cần làm là yêu cầu ICJ/PCA xác định các đảo ở HS-TS có được thềm lục địa và EEZ hay không, giống như khuyến cáo gần đây của TS Tạ Văn Tài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Điểm cuối cùng trong cuộc tranh luận ST-PQT là lý do tại sao TQ cố tình mập mờ về đường chữ U. Theo Tonnesson có thể có mấy cách giải thích sau: (a) TQ biết điều đó quá vô lý nhưng đã lỡ tuyên truyền trong nước như vậy rồi nên không thể rút lại đường chữ U và đành phải để nó mập mờ; (b) các cơ quan quản lý và lãnh đạo TQ chưa thống nhất được phương án claim chính thức; (c) các lãnh đạo cao nhất của TQ không hiểu rõ luật quốc tế và bỏ qua lời khuyên của giới học giả; (d) vấn đề Biển Đông dính dáng đến Đài loan và TQ muốn giải quyết vấn đề ĐL trước; (e) dọa các nước láng giềng về ý đồ bành trướng toàn bộ Biển Đông để các nước phải nhượng bộ trong các cuộc đàm phán khác; (f) chờ thời đến khi TQ đủ mạnh sẽ thực sự chiếm toàn bộ Biển Đông bất chấp luật pháp quốc tế. GS Phạm Quang Tuấn và có lẽ phần đông người Việt (trong đó có tôi) chỉ tin vào phương án (f).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sự kiện tàu Bình Minh bị cắt cáp năm 2011, rồi&amp;nbsp;&lt;a href=&quot;http://thediplomat.com/2014/01/chinas-new-fishing-regulations-an-act-of-state-piracy/&quot;&gt;qui định đánh bắt cá&lt;/a&gt;&amp;nbsp;của chính quyền đảo Hải Nam năm 2013 và các cuộc bắt bớ đâm tàu cá VN, gần đây nhất là&amp;nbsp;vụ giàn khoan HD-981 cho thấy phương án (f) có vẻ có lý. TQ có âm mưu lâu dài độc chiếm Biển Đông và họ sẽ sử dụng sức mạnh quân sự khi có thể. Điều duy nhất tôi không đồng ý với GS Stein Tonnesson trong cuộc tranh luận này là quan điểm của ông cho rằng TQ có incentive và có lợi giữ gìn hòa bình/ổn định lâu dài trong khu vực theo tinh thần Tôn Tử. Chính Tonnesson cho rằng vị trí tàu Bình Minh bị cắt cáp nằm trong EEZ của VN và hành động của TQ không phải là tranh chấp mà là xâm lược (aggression) đáng phải đưa ra UN Security Council. Việc TQ tiếp tục lấn tới trong những năm sau cho thấy chiến thuật &quot;tằm ăn rỗi&quot; bất chấp luật pháp quốc tế chứ không phải vì sĩ diện. Hi vọng Tonnesson đã &quot;tỉnh ngộ&quot; không còn mơ hồ về một nước TQ &quot;yêu chuộng hòa bình&quot; nữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;Update&lt;/b&gt;: Tôi đã nhận được thư trả lời của GS Stein Tonnesson&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;</description><link>http://kinhtetaichinh.blogspot.com/2014/07/stein-tonnesson-vs-pham-quang-tuan.html</link><author>noreply@blogger.com (Anonymous)</author><thr:total>0</thr:total></item><item><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4568422884507290858.post-4426422289106962359</guid><pubDate>Mon, 26 May 2014 02:27:00 +0000</pubDate><atom:updated>2014-05-26T15:07:56.339+10:00</atom:updated><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">Book</category><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">Inequality</category><title>Capital IV</title><description>&lt;br /&gt;
&lt;i&gt;[Tôi đang viết Capital III nhưng vụ số liệu trong C21C do Chris Giles phát hiện ra quá nóng nên tạm dừng III viết IV trước :-)]&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Weekend vừa rồi Chris Giles, một editor của FT, viết một &lt;a href=&quot;http://www.ft.com/intl/cms/s/2/e1f343ca-e281-11e3-89fd-00144feabdc0.html#axzz32Xz2U6Le&quot;&gt;bài báo&lt;/a&gt; và một &lt;a href=&quot;http://blogs.ft.com/money-supply/2014/05/23/data-problems-with-capital-in-the-21st-century/&quot;&gt;blog entry&lt;/a&gt; chỉ ra một số vấn đề về số liệu trong quyển sách đình đám C21C của TP. Bài trên báo viết nhẹ nhàng hơn, so sánh lỗi số liệu của C21C với vụ lỗi trong bảng tính Excel của Rogoff &amp;amp; Reinhart năm ngoái. Trong khi đó bài trên blog buộc tội TP khá nặng, cho rằng nhà kinh tế này đã bịa số liệu&amp;nbsp;(from thin air)&amp;nbsp;và điều chỉnh số liệu (randomly and undocumented) để đạt được kết luận chính của quyển sách. Sau khi sửa lại những lỗi của TP và tính toán lại wealth inequality cho một số nước/khu vực, Chris Giles khẳng định kết luận của C21C không còn đúng nữa. Lời buộc tội này như vậy nặng hơn rất nhiều những gì R&amp;amp;R bị chỉ trích.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng khác với vụ R&amp;amp;R, ngay khi bài báo của Chris Giles được đưa lên mạng và được một số báo/trang mạng khác trích dẫn, một loạt phản hồi theo hướng bênh vực TP xuất hiện. Đáng kể nhất (cho đến thời điểm này) là phản hồi của &lt;a href=&quot;http://www.economist.com/blogs/freeexchange/2014/05/inequality-0?fsrc=rss&quot;&gt;The Economist&lt;/a&gt; và &lt;a href=&quot;http://www.nytimes.com/2014/05/25/upshot/a-new-critique-of-piketty-has-its-own-shortcomings.html&quot;&gt;Justin Wolfers&lt;/a&gt;. Cả hai phản hồi này và những phản hồi của các tác giả khác (&lt;a href=&quot;http://krugman.blogs.nytimes.com/2014/05/24/is-piketty-all-wrong/?_php=true&amp;amp;_type=blogs&amp;amp;_php=true&amp;amp;_type=blogs&amp;amp;_r=1&amp;amp;&quot;&gt;Paul Krugman&lt;/a&gt;, &lt;a href=&quot;http://econbrowser.com/archives/2014/05/criticisms-of-piketty&quot;&gt;James Hamilton&lt;/a&gt;, &lt;a href=&quot;http://www.nytimes.com/2014/05/24/upshot/did-piketty-get-his-math-wrong.html?rref=upshot&quot;&gt;Neil Irwin&lt;/a&gt;) đều cho rằng phát hiện của Chris Giles không ảnh hưởng đến kết luận chính của C21C, i.e. sự bất bình đẳng về của cải (wealth) đã gia tăng trong giai đoạn 1970 đến nay và điều này là tất yếu của capitalism.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bài của The Economist cho rằng Chris Giles chưa có đủ bằng chứng cho các buộc TP bịa số liệu và các hiệu chỉnh mà TP làm trong C21C là cần thiết (nhưng đúng là TP cần giải thích rõ ràng). Phần lớn số liệu trong C21C không có vấn đề gì, những lỗi mà Chris Giles chỉ ra thực ra chỉ là một phần nhỏ của quyển sách chứ không phải central theme như Giles cáo buộc. Justin Wolfers thẳng thừng cho rằng Chris Giles đã &quot;&lt;i&gt;provocative&lt;/i&gt;&quot; và cho rằng động cơ của cáo buộc này là chính trị hơn là học thuật. Dĩ nhiên tất cả các tác giả bênh vực TP nói trên đều là những người thiên tả và không loại trừ khả năng họ bênh vì quan điểm chính trị. Trong khi đó hiện mới có &lt;a href=&quot;http://marginalrevolution.com/marginalrevolution/2014/05/we-all-know-that-wealth-inequality-has-gone-up.html&quot;&gt;Tyler&lt;/a&gt; &lt;a href=&quot;http://marginalrevolution.com/marginalrevolution/2014/05/what-do-the-piketty-data-problems-really-mean.html&quot;&gt;Cowen&lt;/a&gt; (thiên hữu) lên tiếng ủng hộ phê phán của Chris Giles, nhưng cũng khá dè dặt. Chắc vài ngày tới cánh hữu sẽ có nhiều tiếng nói hơn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bản thân TP đã có &lt;a href=&quot;http://blogs.ft.com/money-supply/2014/05/23/piketty-response-to-ft-data-concerns/?&quot;&gt;phản hồi&lt;/a&gt; chính thức (đăng trên blog của Chris Giles), mặc dù thừa nhận rằng bộ số liệu mà mình xây dựng còn phải hoàn thiện thêm nhưng khẳng định kết luận của C21C không sai. TP cũng ngầm phản bác lại cáo buộc của Giles về việc bịa và hiệu chỉnh số liệu bằng lập luận toàn bộ số liệu và technical appendix của quyển sách đã được công khai trên web. Đáng tiếc là TP chưa trả lời trực tiếp một số vấn đề mà Chris Giles nêu ra, vd gõ số liệu của Thụy điển sai, lựa chọn năm so sánh cho các nước tùy tiện, hiệu chỉnh số liệu mà không giải thích, hay cherry pick các bộ số liệu có lợi cho kết luận của mình. Hi vọng TP sẽ viết một &quot;giải trình&quot; chi tiết hơn trong thời gian tới, cuộc thảo luận chi tiết giữa TP và Chris Giles sẽ rất đáng theo dõi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cá nhân tôi, dù không có thời gian kiểm tra số liệu trong C21C như Chris Giles và những người khác, không ủng hộ các cáo buộc của Chris Giles về độ tin cậy của số liệu và nhất là việc TP manipulate số liệu. Quyển sách này là một công trình nghiên cứu hơn 10 của TP và một số nhà kinh tế khác, nếu có lỗi trong việc thu thập và sửa chữa số liệu thì đã bị những chuyên gia khác chỉ ra rồi. Một kết luận quan trọng có ý nghĩa rất lớn đến chính sách kinh tế dài hạn gần như cho toàn thế giới (tư bản) không dễ gì đạt được thông qua việc manipulate số liệu (trong hơn 10 năm trời). So sánh với bài của R&amp;amp;R năm ngoái, chỉ là một working paper (không có peer review) và chưa hoàn chỉnh, C21C đã được kiểm chứng và xác nhận bởi nhiều tác giả và công trình nghiên cứu khác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một criticism nghiêm túc phải xem xét các bài báo và nghiên cứu liên quan của TP rồi mới có thể kết luận quyển C21C đã đưa ra kết luận sai. Rất có thể nhiều điểm &quot;khó hiểu&quot; trong C21C đã được TP giải thích/trình bày trong các nghiên cứu đó. Chris Giles chưa làm điều này, và chắc sẽ không làm vì tôi nghi ngờ động cơ của nhà báo này là muốn tạo ra một vụ scandal R&amp;amp;R thứ hai (mà mình là hero) chứ không hẳn Giles có academic interest về vấn đề này. Thực tế những phê phán nặng ký hơn với C21C đều từ các nhà kinh tế (academic) có khả năng sẽ làm lung lay C21C. Tôi sẽ viết về các criticisms này trong một entry tới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;</description><link>http://kinhtetaichinh.blogspot.com/2014/05/capital-iv.html</link><author>noreply@blogger.com (Anonymous)</author><thr:total>7</thr:total></item><item><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4568422884507290858.post-4572902000564784000</guid><pubDate>Tue, 13 May 2014 02:44:00 +0000</pubDate><atom:updated>2014-07-10T17:08:00.531+10:00</atom:updated><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">China</category><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">Geopolitics</category><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">HS-TS</category><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">Oil</category><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">Politics</category><title>HD-981</title><description>&lt;br /&gt;
Cách đây ngót nghét 20 năm khi tôi mới vào ngành dầu khí, có một sự kiện trong ngành làm tôi rất thắc mắc. Lúc đó ONGC, công ty dầu khí quốc gia Ấn độ, bán lại đặc quyền khai thác một số lô dầu khí ngoài khơi VN cho các công ty nước ngoài. Những quyền này trước đó được Tổng cục dầu khí (tiền thân của PVN) giao cho ONGC với giá rất rẻ nên họ đã &quot;hời to&quot; khi chẳng phải làm gì mà thu được một mớ tiền. Nói theo ngôn ngữ hiện nay là ONGC chạy được và bán lại dự án trên giấy mà chẳng phải đầu tư gì cả.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Điều đáng nói là phía VN lúc đó không những không phàn nàn gì mà thậm chí còn đứng ra giàn xếp cho ONGC đàm phán với các đối tác nước ngoài khác để đẩy nhanh tiến độ. Tôi đem thắc mắc này hỏi một vài đồng nghiệp có thâm niên thì được giải thích rằng giai đoạn cuối thập kỷ 80 - đầu 90 VN còn bị cấm vận nên các công ty dầu khí phương Tây chưa thể vào VN đấu thầu quyền thăm dò khai thác. Nhưng lúc đó VN cần phải &quot;cắm mốc chủ quyền&quot; thật nhanh bằng các hoạt động thăm dò khai thác offshore, ONGC gần như là lựa chọn duy nhất (bên cạnh Zarubezhneft của Nga đã ký liên doanh Vietsovpetro và bắt đầu khai thác Bạch Hổ). Do vậy dù biết ONGC sẽ chẳng làm gì vì họ không có thực lực, phía VN buộc phải giao quyền thăm dò khai thác một số lô cho ONGC trong cuộc chạy đua với TQ khi nước này còn khá yếu và vẫn bị dư âm của sự kiện Thiên An Môn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những năm sau đó chiến thuật &quot;cắm cột mốc chủ quyền&quot; bằng cách giao quyền thăm dò khai thác cho các công ty dầu khi nước ngoài đã được cả hai bên sử dụng khi chưa đủ sức tự làm. VN giao cho Mobil, TQ giao cho Creston, nhưng cả hai công ty tư bản này đều &quot;rét&quot; khi tầu chiến của VN và TQ hiện diện. Họ nhận thăm dò khai thác hoàn toàn vì mục đích thương mại nên chẳng dại gì làm công cụ cho VN hay TQ trong cuộc tranh chấp lãnh hải.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Không nhờ được nước ngoài, VN giao cho PVN xây dựng các giàn DK gần khu vực Trường Sa, tuy nhiên năng lực của PVN chỉ làm được giàn cố định ở các khu vực nước nông (100-200m). Trong khi đó CNOOC của TQ với thực lực mạnh hơn nhắm đến các vùng nước sâu (&amp;gt;1000m), là phần lớn cái &quot;lưỡi bò&quot; mà họ tự vẽ, với giàn semi-submersible HD-981. Tôi tin là phía VN/PVN đã theo dõi sát sao quá trình đóng HD-981 và thừa biết thời điểm TQ đem nó xuống Biển Đông đã cận kề.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đầu năm 2014 nói chuyện vói một insider của PVN tôi được biết phía VN đã cố tìm đối tác triển khai thăm dò khai thác ở các vùng tranh chấp với TQ (nước sâu). Tuy nhiên chỉ có Nga có khả năng tham gia, cả về mặt công nghệ lẫn khả năng đối đầu với TQ nếu có đụng độ. Rất không may cho VN, sự kiện Ukraine xảy ra đã đẩy Nga và TQ lại gần nhau quá nhanh và hiển nhiên Putin đã chọn ngả về phía TQ thay vì VN, cho dù có thể nói VN là quốc gia &quot;thân Nga&quot; vào bậc nhất thế giới. Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu Putin biết trước việc TQ kéo HD-981 xuống Biển Đông và cuộc tập trân Nga-Trung hoàn toàn không phải tình cờ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Không dựa được vào Nga, Ấn độ thì 20 năm rồi vẫn chưa đủ mạnh để trở thành đối trọng với TQ, ASEAN chia rẽ như truyền thống vốn có của tổ chức này, VN chỉ còn một con đường ngả về phía Mỹ nếu không muốn bị TQ nuốt trọn Biển Đông. Từ hơn 20 năm trước VN đã hiểu rằng tự mình không thể chống được mộng bành trướng của ông anh phương Bắc và cần phải có đồng minh thay thế Liên Xô đang sụp đổ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở thời điểm hiện tại bằng mọi giá VN phải đuổi được HD-981 ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của mình, nếu không bước tiếp theo của TQ sẽ là kéo HD-981 đi khắp Biển Đông dù có khoan được dầu hay không. Ngả về phía Mỹ như thế nào tôi không biết, nhưng nếu VN back down khỏi TPP thì đó chắc chắn là dấu hiệu Biển Đông sẽ mất. Nếu đợt đàm phán TPP tới tiến triển tốt, tôi tin không quân/hải quân VN sẽ sớm xuất đầu lộ diện ở khu vực HD-981.﻿&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;</description><link>http://kinhtetaichinh.blogspot.com/2014/05/hd-981.html</link><author>noreply@blogger.com (Anonymous)</author><thr:total>7</thr:total></item><item><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4568422884507290858.post-1897837142088973066</guid><pubDate>Thu, 24 Apr 2014 13:30:00 +0000</pubDate><atom:updated>2014-05-07T14:22:30.651+10:00</atom:updated><title>Capital II</title><description>&lt;br /&gt;
&lt;i&gt;Tôi sẽ không viết review quyển &quot;Capital in the 21st Century&quot; (sau đây sẽ viết tắt là C21C) của Thomas Piketty (TP), có quá nhiều bài review rồi và chắc chắn tôi không thể viết hay bằng những cây bút nổi tiếng như Paul Krugman, Robert Solow, Tyler Cowen, hay Nguyễn Vạn Phú (danh mục các bài review tôi sưu tập được có trong &lt;a href=&quot;http://kinhtetaichinh.blogspot.com.au/2014/04/capital.html&quot;&gt;entry Capital trước&lt;/a&gt;). Tuy nhiên vì vẫn muốn &quot;ăn theo&quot; nên tôi sẽ viết một số entry, không phải review mà là viết lại những suy nghĩ/nhận xét của tôi khi đọc quyển sách này.&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;1.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
Tôi đã có lần đề cập đến &lt;a href=&quot;http://kinhtetaichinh.blogspot.com.au/2010/05/angus-maddison.html&quot;&gt;Angus Maddison&lt;/a&gt;, một nhà kinh tế mà tôi rất kính trọng về công trình thu thập số liệu kinh tế thế giới trong hơn 1000 năm qua của ông. Thomas Piketty (TP) trong quyển sách của mình cũng nhắc đến Maddison nhiều lần, tôi nghĩ không hẳn vì TP sử dụng số liệu mà Maddison thu thập mà còn vì TP cũng có quan điểm giống tôi về vai trò của số liệu lịch sử. Nhưng TP không chỉ thán phục công trình của Maddison mà bản thân ông đã bỏ hơn 10 năm thu thập và xây dựng một bộ số liệu đồ sộ về capital và income để có thể, nói theo cách của nhà báo Nguyễn Vạn Phú, zoom in và zoom out hiện tượng inequality trong hàng trăm năm. Tất cả các reviewer mà tôi đã đọc, dù khen hay chê quyển sách, cũng đều thừa nhận đây là một công trình lớn. Cũng giống như Maddison, tôi cho rằng điều quan trọng nhất mà TP để lại cho nhân loại là bộ số liệu này chứ không phải những qui luật mà ông đã chỉ ra&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vậy tại sao bộ số liệu của TP (và bộ của Maddison - và một mức độ nào đó bộ số liệu &lt;a href=&quot;http://kinhtetaichinh.blogspot.com.au/2009/06/vhlss.html&quot;&gt;Địa bạ của vua Gia Long&lt;/a&gt;) lại quan trọng và quí giá như vậy? Có hai lý do chính. Thứ nhất, kinh tế học là một ngành khoa học xã hội mà đặc điểm chung của nhóm ngành khoa học này là số liệu (data) do các hoạt động của con người tạo ra không thể lặp lại như nhiều ngành khoa học tự nhiên khác. Bởi vậy nếu không được ghi nhận và lưu trữ những số liệu đó sẽ mất vĩnh viễn (trừ khi loài người phát minh ra time machine). Càng để lâu khả năng tìm và tập hợp lại số liệu trong quá khứ càng khó khăn, nhất là số liệu trước thế kỷ 20.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lý do thứ hai là nhiều qui luật kinh tế, xã hội có thể trải dài hàng thế kỷ nên số liệu của các cơ quan thống kê các nước ghi nhận trong khoảng 100 năm lại đây không đủ để phân tích những qui luật đó. Vấn đề inequality là một ví dụ, nếu chỉ có thể zoom out được trong vòng 50-60 năm lại đây, qui tắc Kuznets&#39; curve có thể đúng nhưng khi có số liệu dài hơn TP đã phủ nhận qui luật này. Một ví dụ khác là lý thuyết tỷ giá PPP mà tôi &lt;a href=&quot;http://kinhtetaichinh.blogspot.com.au/2014/02/big-mac-index.html&quot;&gt;đã có lần&lt;/a&gt; nhắc đến. Đa số các nghiên cứu định lượng đều không xác nhận PPP, tuy nhiên điều này có thể đơn giản vì chuỗi số liệu mà những nghiên cứu đó sử dụng chỉ bao trùm 20-30 năm lại đây. Có ý kiến cho rằng để kiểm định được lý thuyết PPP có thể các nhà kinh tế phải đợi để có sample dài hơn 100 năm thì kiểm định mới đủ tin cậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;2.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
Trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, ngành kinh tế học được gọi là political economy. Các nhà kinh tế ít nhiều đều có khuynh hướng triết học và anthropology (nhân chủng học?) muốn đưa ra các phân tích và giải thích cho những vận động kinh tế macro trong xã hội. Họ quan tâm đến các vấn đề vĩ mô như làm thế nào để một quốc gia thịnh vượng (Adam Smith), tại sao international trade lại quan trọng (David Ricardo), tăng trưởng dân số có tác động thế nào đến ổn định kinh tế và xã hội (Thomas Malthus). Karl Marx là một điển hình của các nhà kinh tế trong giai đoạn này, ông đã xây dựng một lý thuyết ở tầm macro giải thích cho sự vận hành của nền kinh tế (tư bản).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một đặc điểm chung các nghiên cứu/lý thuyết political economy trong giai đoạn này, từ Smith đến Marx, là sự thiếu vắng số liệu macro. Mặc dù một số học giả trong thế kỷ 18-19 đã cố gắng thu thập và xây dựng một số bộ số liệu macro cho một số nền kinh tế (e.g. Anh, Pháp), những số liệu này quá thô sơ và không đầy đủ cho các nghiên cứu political economy lúc đó. Hạn chế về số liệu buộc các học giả phải xây dựng lý thuyết trên các quan sát micro của mình hoặc một vài tác giả khác và/hoặc dựa vào suy luận logic của bản thân. Điều này làm phương pháp luận khoa học của political economy, giống như những ngành khoa học xã hội khác, đi theo hướng positivism, trái ngược với các ngành khoa học tự nhiên (vật lý, hoá học, sinh học) đang phát triển rất mạnh trong giai đoạn đó với nền tảng phương pháp luận theo hướng deductivism (i.e. dựa vào số liệu thực tế để kiểm chứng và xây dựng lý thuyết).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Political economy dịch chuyển dần thành economics trong nửa cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 khi trường phái marginalism dần dần trở thành mainstream. Có không ít giả thuyết cho rằng các nhà kinh tế khi nhìn thấy sự thành công của các ngành khoa học tự nhiên đã muốn áp dụng phương pháp luận khoa học của những ngành này vào kinh tế học. Lý thuyết kinh tế chuyển dịch từ một tập hợp rhetorics sang các mô hình (toán) với các giả định rõ ràng có thể kiểm chứng được bằng số liệu thực tế. Nhưng có lẽ vì số liệu macro thời đó còn rất hiếm nên sự dịch chuyển này dần dần lái focus của kinh tế học từ macro sang micro, lĩnh vực mà số liệu giá cả và tiêu dùng của từng loại hàng hoá riêng lẻ hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh của từng công ty đã tương đối phổ biến.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sự ra đời của national accounting ở Mỹ trong giai đoạn 1930s rồi lan sang châu Âu sau WWII có lẽ không chỉ là tình cờ mà còn là động lực giúp cho những quan tâm vĩ mô hồi sinh trở lại. Nhiều người cho rằng Keynes là cha đẻ của macroeconomics còn Solow mở đầu cho growth theory, nhưng có lẽ những lý thuyết đó chỉ là sự quay trở lại với những mối quan tâm của political economy trong thế kỷ 18-19 dưới một hình hài khác. Những công trình vĩ mô này ít rhetorics hơn, nhiều mô hình (toán) hơn và có một điểm khác biệt rõ ràng là sử dụng nhiều số liệu macro hơn. Có thể nói kinh tế học với xuất phát điểm là những quan tâm vĩ mô đã phải loay hoay gần một thế kỷ để đợi số liệu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;3.&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
Số liệu macro trong kinh tế sở dĩ ra đời rất muộn như vậy (trừ một số ngoại lệ đơn giản trong thế kỷ 18-19) vì nó không observable, nghĩa là không thể cân đong đo đếm được trực tiếp. Trong nhiều trường hợp số liệu macro không tồn tại trên thực tế mà chỉ là một &quot;social construct&quot;. Lấy ví dụ giá cả của một mặt hàng bất kỳ có thể thay đổi lên xuống và đại lượng này observable. Khi các nhà kinh tế đưa ra khái niệm &quot;lạm phát&quot; họ nói về một đại lượng không tồn tại trong thực tế mà chỉ là một khái niệm lý thuyết được xây dựng nhằm mô tả và giải thích hoạt động của một nền kinh tế (tư bản). Tất nhiên &quot;lạm phát&quot; unobservable nên cơ quan thống kê (hoặc các tổ chức tư nhân) phải tìm cách lượng hóa nó thông qua một số (social) construction như CPI, PPI, hay các loại chỉ số giá macro khác. Bản thân các chỉ số này cũng unobservable, thông thường được tính toán từ tập hợp số liệu (micro) về giá của rất nhiều loại hàng hóa dịch vụ khác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Điều này có một hệ quả quan trọng là các mô hình/lý thuyết macro có thể nói đến các khái niệm/đại lượng macro khác nhau dù có tên gọi như nhau. Quyển C21C của TP viết về capital, nhiều người so sánh nó với Das Kapital của Marx nhưng về bản chất &quot;capital&quot; trong hai tác phẩm này không nhất thiết là một. &lt;a href=&quot;http://www.dissentmagazine.org/article/kapital-for-the-twenty-first-century&quot;&gt;James K. Galbraith&lt;/a&gt;&amp;nbsp;cho rằng khái niệm capital của Marx rộng hơn nhiều so với capital của TP. Với Marx, capital là một tập hợp các socio-economic &amp;amp; legal relationships đảm bảo cho quyền được quyết định các hoạt động kinh tế trong xã hội (và với mục đích tối thượng là &quot;bóc lột&quot; labor surplus từ những người lao động không có các quyền này). Trong khi đó capital của TP được hiểu theo nghĩa truyền thống của neoclassical economics, i.e. một trong những input của quá trình sản xuất. Tất nhiên việc xác định ownership của capital sẽ đưa hai khái niệm này lại gần nhau nhưng chúng vẫn không thể là một.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi Marx viết Das Kapital không chỉ khái niệm capital khác với TP mà số liệu về (physical) capital chi tiết chưa tồn tại, ngoại trừ một số bộ số liệu sơ khai của Petty, de Vauban, hay Giffen. Thời điểm TP viết C21C giá cổ phiếu của hàng triệu công ty được cập nhật từng giây, national accounts của hầu hết các quốc gia được cập nhật hàng quí, chưa kể vô số các cuộc khảo sát vĩ mô không định kỳ. Sự bùng nổ về sồ liệu, cả về lượng lẫn năng lực tính toán, là một thế mạnh của TP so với Marx. Bản thân TP khi mở đầu quyển sách đã tỏ ý phê phán những đại thụ đi trước như Malthus, Ricardo, Marx về những phân tích thiếu vắng số liệu của họ. Việc TP trích dẫn Jane Austen hay Honore de Balzac có thể hàm ý rằng quan sát của những nhà kinh tế cổ điển (thời đại political economy) cũng chẳng &quot;reliable&quot; gì hơn các tác phẩm văn học. Quyển C21C trước hết là một công trình thu thập số liệu công phu, hơn hẳn những tác giả mà TP nhắc đến.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy nhiên một trong những phê phán quan trọng nhất cho C21C mà tôi đã đọc được chính là của James Galbraith về khái niệm capital với một núi data của TP. James Galbraith (con trai của John Kenneth Galbraith) là một nhà kinh tế có khuynh hướng leftwing (như TP) và cũng là một chuyên gia về inequality. Ông cho rằng khi TP (và các nhà kinh tế neoclassical khác) sử dụng khái niệm capital như một input cho quá trình sản xuất, đồng nghĩa với việc phải quantify số liệu capital cho một nền kinh tế, họ buộc phải sử dụng market price để đo lường giá trị của capital. Đây là một điều nguy hiểm vì market price thường xuyên biến động rất xa khỏi intrinsic value (theo nghĩa input value) nên vai trò của capital trong nền kinh tế có thể bị under- hay overvalue. Những cuộc khủng hoảng hay bubble trên thị trường có thể làm các phân tích liên quan đến market price bị méo mó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Việc sử dụng market price, theo lập luận trong cuộc tranh luận Cambridge-Cambridge nổi tiếng, dẫn đến một vấn đề khác rất nghiêm trọng khi thống kê số liệu macro về capital. Market price trong nhiều trường hợp là present value of expected future incomes. Cứ giả sử expected future incomes đúng (cho một công ty, một thiết bị máy móc, hay một financial instrument), để tính present value người ta sẽ phải giả định một discount factor nào đó. Discount factor trên nguyên tắc là expected return on capital. Điều này dẫn đến một cái vòng luẩn quẩn (recursive) là để tính return on capital TP phải tính tổng giá trị của capital nhưng trước đó lại phải sử dụng discount factor là chính co số return on capital mà mình cần xác định. Tất nhiên TP không ngồi tính market price cho từng loại asset mà thu thập số liệu đó từ các nguồn khác nhau, nhưng những người tính toán các con số đó phải giả định một discount factor nào đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[&lt;i&gt;Đào sâu thêm khía cạnh này có thể thấy phê phán của James Galbraith đi vào cốt lõi của lý thuyết general equilibrium. TP có thể &quot;cãi&quot; rằng miễn là GE tồn tại (và duy nhất) market price sẽ phản ánh tất cả các estimation cho discount factors của các bên tham gia thị trường, do vậy sẽ tiệm cận đến equilibrium return on capital. Nói cách khác return on capital là một con số độc lập với các biến động trên thị trường, miễn là thị trường có khuynh hướng quay về trạng thái equilibrium (roots inside the unit circle to be exact, anyone? :-)), sử dụng market price để tính aggregate capital không bị mâu thuẫn như Galbraith chỉ ra.&lt;/i&gt;]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;</description><link>http://kinhtetaichinh.blogspot.com/2014/04/capital-ii.html</link><author>noreply@blogger.com (Anonymous)</author><thr:total>8</thr:total></item><item><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4568422884507290858.post-3531637873113013451</guid><pubDate>Tue, 22 Apr 2014 01:06:00 +0000</pubDate><atom:updated>2014-04-22T11:07:51.925+10:00</atom:updated><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">Econometrics</category><title>Chocolate</title><description>&lt;br /&gt;
Trong dịp Easter vừa rồi &lt;a href=&quot;https://twitter.com/felixsalmon/status/457895085292933120&quot;&gt;Felix Salmon&lt;/a&gt; tweet đồ thị sau về mối quan hệ giữa số lượng tiêu thụ chocolate bình quân đầu người của một quốc gia với số giải Nobel (trong 10 triệu dân) mà quốc gia đó đạt được:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;div class=&quot;separator&quot; style=&quot;clear: both; text-align: center;&quot;&gt;
&lt;a href=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjYuGAtX90PQNZvVu9VAu8yI2vyOsnyo4p3P5zfvXnkOczZZPIIJrLL3wVRa1Xd9nLNs2DuYOK-TQseAf1db3KNxqdJzca8o7ek5p7MzGIs1-nJuA_XYbMXJGpdNqn-W0nqQgLocs2Ym54/s1600/Nobel+vs+Chocolate.JPG&quot; imageanchor=&quot;1&quot; style=&quot;margin-left: 1em; margin-right: 1em;&quot;&gt;&lt;img border=&quot;0&quot; src=&quot;https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjYuGAtX90PQNZvVu9VAu8yI2vyOsnyo4p3P5zfvXnkOczZZPIIJrLL3wVRa1Xd9nLNs2DuYOK-TQseAf1db3KNxqdJzca8o7ek5p7MzGIs1-nJuA_XYbMXJGpdNqn-W0nqQgLocs2Ym54/s1600/Nobel+vs+Chocolate.JPG&quot; height=&quot;355&quot; width=&quot;400&quot; /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thoạt nhìn tôi nghĩ đây là một đồ thị marketing của các hãng sản xuất chocolate đang tồn hàng Easter, nhưng hóa ra theo &lt;a href=&quot;http://www.businessinsider.com.au/chocolate-consumption-vs-nobel-prizes-2014-4&quot;&gt;Business Insider&lt;/a&gt; đây là kết quả của một bài nghiên cứu nghiêm túc đăng trên tạp chí &lt;a href=&quot;http://www.nejm.org/doi/full/10.1056/NEJMon1211064&quot;&gt;New England Journal of Medicine&lt;/a&gt;, có lẽ là một trong những tạp chí hàng đầu về y khoa trên thế giới. Business Insider còn tìm được link của &lt;a href=&quot;http://www.biostat.jhsph.edu/courses/bio621/misc/Chocolate%20consumption%20cognitive%20function%20and%20nobel%20laurates%20(NEJM).pdf&quot;&gt;bản pdf miễn phí&lt;/a&gt; của bài nghiên cứu này và tôi không thể không đọc thử xem tác giả đã làm thế nào.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hóa ra bài nghiên cứu vô cùng đơn giản. Tác giả download số liệu &lt;a href=&quot;http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_Nobel_laureates_per_capita&quot;&gt;Nobel laureates per capita&lt;/a&gt; từ Wikipedia (bao gồm cả giải Nobel hòa bình) và số liệu chocolate consumption per capita từ website của một số công ty sản xuất chocolate rồi chạy linear regression. Kết quả là correlation của hai biến số này rất cao (có thể thấy qua đồ thị trên) và highly significant. Tác giả cho rằng (dù rào trước đón sau rất nhiều) ăn nhiều chocolate sẽ làm tăng cognitive function vì chocolate có chứa nhiều chất&amp;nbsp;flavonoids, do vậy làm tăng khả năng được giải Nobel.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bất kỳ ai đã từng học qua một khóa econometrics sẽ thấy nghiên cứu này có nhiều vấn đề. Thứ nhất như chính tác giả đã thừa nhận correlation không phải causation, nhiều khả năng số giải Nobel và lượng chocolate consumption đều cùng do một yếu tố thứ ba quyết định, dễ thấy nhất là kinh tế (vd GDP per capita). Những yếu tố khác có thể ảnh hưởng lên số Nobel prize đáng ra tác giả phải control có thể là tỷ lệ đầu tư cho giáo dục, nghiên cứu, số lượng sinh viên đại học trên 1000 dân, số lượng bài báo khoa học hoặc patent, số lượng tiêu thụ các thực phẩm khác có hàm lượng flavonoids cao...&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thứ hai số lượng giải Nobel và chocolate consumption chắc chắn thay đổi theo thời gian. Ví dụ cụ thể là Thụy điển vài thập kỷ gần đây được rất ít giải Nobel so với khi giải này mới được thành lập. Bởi vậy sử dụng số liệu giải Nobel trong toàn bộ lịch sử (stock variable) so sánh với số lượng consumption của một năm (flow variable) đòi hỏi phải có một assumption là stock variable phân bổ đều theo thời gian còn flow variable không thay đổi, khó có thể đúng trên thực tế. Một người có cognitive function tốt (nên có khả năng được giải Nobel cao hơn) phải ăn nhiều chocolate lúc nhỏ, khi đi học, lúc làm nghiên cứu hay khi nào?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thứ ba nếu ăn chocolate làm tăng cognitive ability thì một số kiểm chứng đơn giản hơn có thể thực hiện như chạy regression giữa lượng chocolate consumption với kết quả PISA, sẽ chính xác hơn so với số giải Nobel. Ngoài ra thay vì nghiên cứu &quot;macro&quot; như vậy tác giả có thể tiến hành nghiên cứu &quot;micro&quot;, nghĩa là so sánh số lượng tiêu thụ chocolate của từng cá nhân được giải Nobel (hoặc những người có thành tực khoa học cao như các giáo sư đại học) so với mức tiêu thụ trung bình. Tất nhiên làm nghiên cứu micro như vậy sẽ tốn kém và mất thời gian hơn so với việc download data từ Internet và chạy linear regression, nhưng một bài báo trên NEJE phải như vậy mới xứng đáng chứ. Hay tạp chí này không thực sự tốt như tôi tưởng?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;</description><link>http://kinhtetaichinh.blogspot.com/2014/04/chocolate.html</link><author>noreply@blogger.com (Anonymous)</author><media:thumbnail xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" url="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjYuGAtX90PQNZvVu9VAu8yI2vyOsnyo4p3P5zfvXnkOczZZPIIJrLL3wVRa1Xd9nLNs2DuYOK-TQseAf1db3KNxqdJzca8o7ek5p7MzGIs1-nJuA_XYbMXJGpdNqn-W0nqQgLocs2Ym54/s72-c/Nobel+vs+Chocolate.JPG" height="72" width="72"/><thr:total>4</thr:total></item><item><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4568422884507290858.post-8720258691644526785</guid><pubDate>Thu, 10 Apr 2014 04:31:00 +0000</pubDate><atom:updated>2014-05-26T10:15:05.522+10:00</atom:updated><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">Book</category><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">Inequality</category><title>Capital</title><description>&lt;br /&gt;
Cuối cùng &lt;a href=&quot;http://www.nybooks.com/articles/archives/2014/may/08/thomas-piketty-new-gilded-age/&quot;&gt;Paul Krugman&lt;/a&gt; đã viết xong bài review cho quyển &lt;i&gt;&quot;Capital in the 21st century&quot;&lt;/i&gt; của Thomas Piketty. Trước đó The Economist cho rằng quyển sách này quan trọng như Das Kapital của Karl Marx, còn Krugman đánh giá: &lt;i&gt;&quot;This is a book that will change both the way we think about society and the way we do economics.&quot;&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tôi đã đọc gần chục bài review về quyển này (và đang đọc nguyên bản nhưng chưa biết khi nào xong vì quyển này gần 700 trang). Nhìn chung phe tả khen ngợi hết lời ngoại trừ James K. Galbraith, còn phe hữu thì coi đây như một lời kêu gọi &quot;đấu tranh giai cấp&quot; mới của thế kỷ 21. Thực ra phe hữa chưa có nhiều review, tôi cực kỳ trông đợi review hoặc ý kiến của Lucas và Ferguson (một số cái tên đáng trông đợi khác là Solow, Romer, Becker) . Nhắc đến Lucas tôi nhớ đến 2 câu trích dẫn rất nổi tiếng của ông (Krugman dẫn một câu trong bài review):&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;i&gt;&quot;Of the tendencies that are harmful to sound economics, the most seductive, and in my opinion the most poisonous, is to focus on questions of distribution.”&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
và&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;i&gt;&quot;Once one starts to think about them [economic growth], it is hard to think about anything else.&quot;&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Có thể thấy Lucas là đại diện tiêu biểu cho trường phái conservative right-wing, tin rằng một khi kinh tế tăng trưởng tốt vấn đề inequality không đáng bận tâm. Thậm chí ở khía cạnh ngược lại, các cố gắng làm giảm inequality sẽ ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng và sẽ có hại cho xã hội trong dài hạn. Ngược lại với Lucas, Krugman và ngày càng nhiều left-wing economist cho rằng inequality quá cao không chỉ sai về mặt đạo đức mà còn ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Quay lại bài review, mặc dù Krugman khen hết lời nhưng có thể nói quyển này chưa thỏa mãn ông. Điểm quan trọng nhất mà Krugman cho rằng Piketty chưa đề cập đầy đủ là vai trò của income inequality hiện tại trong xã hội Mỹ. Piketty cho rằng vấn đề chính trong dài hạn là wealth/capital inequality, nếu xu hướng này tiếp diễn trong thế kỷ 21 thì xã hội phương Tây sẽ quay trở về thời thế kỷ 19 với một vài dòng họ giầu có kiểm soát và cai quản toàn bộ nền kinh tế. Để chống lại xu hướng này các nước cần gia tăng estate/wealth tax, nghĩa là thuế đánh vào của cải mà con cái được thừa hưởng từ bố mẹ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Krugman đồng ý với nhận định đó nhưng cho rằng hiện tại vấn đề lớn nhất (với Mỹ) là kiểm soát income inequality vì phần lớn những người có thu nhập cực cao (trong giới tài chính và business CEO) không xứng đáng với đồng lương cao như vậy. Krugman trích dẫn một ý rất quan trọng của Piketty là vấn đề income cao hiện tại đã vượt ra ngoài khuôn khổ economic, nghĩa là những mức lương khủng của các CEO không phải do invisible hands xác định mà là social norm và politic thay đổi. Đánh thuế thật cao lên cả income lẫn capital gain là giải pháp mà Krugman cổ súy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một chi tiết thú vị khác mà Krugman chỉ ra là hiếm khi có nhà kinh tế nào như Piketty trích dẫn các tác giả văn học cổ điển trong một quyển sách kinh tế. Nhưng điều này có logic của nó vì thế kỷ 19 là thời điểm mà wealth inequality cực điểm nên vấn đề này được phản ánh nhiều trong văn học (e.g. Balzac). Hơn nữa số liệu thống kê thời đó rất hiếm, báo chí chưa phổ biến và được lưu trữ hệ thống như hiện nay nên văn học là một nguồn &quot;bằng chứng&quot; khả dĩ cho Piketty.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chi tiết này làm tôi nhớ lại một một điều tương tự mà tôi đã để ý khi đọc văn học Nga hồi nhỏ. Trong nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết Nga có các nhà quí tộc sống bằng lợi tức từ một điền trang nào đó. Họ thường là sĩ quan, nhà thơ, họa sĩ, sinh viên sống ở các thành phố lớn (Moscow, St. Petersburg, Kazan...) nhưng thu nhập chủ yếu từ các estate mà họ thừa hưởng từ cha mẹ hoặc người thân. Hiện tượng này chắc phải rất phổ biến nên các nhà văn Nga mới đưa vào tác phẩm của họ thường xuyên như vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng không chỉ có văn chương, Karl Marx với ý tưởng communism xuất hiện trong bối cảnh kinh tế xã hội như vậy và chắc chắn có không ít thinker có quan điểm giống Marx. Những gì xảy ra trong thế kỷ 20 có lẽ là hệ quả của hình thái xã hội với wealth inequality quá cao của thế kỷ 19. Thế kỷ 21 đang quay về lại thế kỷ 19, vậy thế kỷ 22 sẽ đầy bão táp như thế kỷ 20? Tôi nghĩ điểm khác biệt lớn nhất giữa 2 thế kỷ là sự phổ biến của thông tin dẫn đến &quot;wisdom of the crowd&quot; sẽ dẫn dắt xã hội chứ không phải một vài lãnh tụ với tài năng diễn thuyết như Lenin hay Hitler nữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Không kể thiên tai, những destruction lớn trong lịch sử nhân loại đều xuất phát từ một vài cá nhân hay government. Mặc dù thế giới hiện tại vẫn còn những Putin hay Kim Jong Un, tôi tin rằng vai trò của những &quot;lãnh tụ&quot; như vậy sẽ giảm dần trước Facebook, Twister và những hình thái trao đổi/kết nối thông tin khác trong tương lai. Với tôi việc tách rời các vấn đề kinh tế xã hội với information technology trong quyển sách của Piketty là một thiếu sót quan trọng (tôi đoán vậy thôi chứ chưa đọc hết).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;
&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;
&lt;b&gt;Hướng dẫn đọc sách Capital in the 21st century&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://marginalrevolution.com/marginalrevolution/2014/04/how-to-read-any-book-like-capital-in-the-twenty-first-century.html&quot;&gt;Tyler Cowen&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.businessinsider.com.au/pikettybot-2014-4&quot;&gt;pikettybot&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;Một số review:&amp;nbsp;&lt;/b&gt;(Xem thêm list of review tổng hợp bởi &lt;a href=&quot;http://habermas-rawls.blogspot.com.au/2014/04/reviews-of-thomas-pikettys-capital.html&quot;&gt;Habermas &amp;amp; Rawls&lt;/a&gt;)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.vox.com/2014/4/8/5592198/the-short-guide-to-capital-in-the-21st-century&quot;&gt;Vox:&amp;nbsp;The short guide to Capital in the 21st Century&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.dissentmagazine.org/article/kapital-for-the-twenty-first-century&quot;&gt;James K. Galbraith:&amp;nbsp;Kapital for the Twenty-First Century?&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.ft.com/intl/cms/s/0/decdd76e-b50e-11e3-a746-00144feabdc0.html?siteedition=intl#axzz2yLOzdt2M&quot;&gt;FT:&amp;nbsp;Save capitalism from the capitalists by taxing wealth&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.newyorker.com/arts/critics/books/2014/03/31/140331crbo_books_cassidy&quot;&gt;The New Yorker:&amp;nbsp;FORCES OF DIVERGENCE&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.nytimes.com/2014/03/12/business/economy/a-relentless-rise-in-unequal-wealth.html?_r=1&quot;&gt;NYT:&amp;nbsp;A Relentless Widening of Disparity in Wealth&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.bruegel.org/nc/blog/detail/article/1291-blogs-review-capital-in-the-twenty-first-century/&quot;&gt;Bruegel Blog:&amp;nbsp;Blogs Review: Capital in the twenty-first century&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://krugman.blogs.nytimes.com/2014/03/14/notes-on-piketty-wonkish/?_php=true&amp;amp;_type=blogs&amp;amp;_r=0&quot;&gt;Paul Krugman: Notes on Piketty&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://krugman.blogs.nytimes.com/2014/04/16/piketty-day-notes/?_php=true&amp;amp;_type=blogs&amp;amp;_php=true&amp;amp;_type=blogs&amp;amp;_r=1&amp;amp;&quot;&gt;Paul Krugman: Piketty Day Notes&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.nytimes.com/2014/04/25/opinion/krugman-the-piketty-panic.html&quot;&gt;Paul Krugman: The Piketty Panic&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.economist.com/blogs/freeexchange/2014/02/book-clubs?fsrc=rss&quot;&gt;The Economist: Reading &quot;Capital&quot;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://mpra.ub.uni-muenchen.de/52384/1/MPRA_paper_52384.pdf&quot;&gt;JER: The return of patrimonial capitalism&quot;: review of Thomas Piketty&#39;s Capital in the 21st century&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.theguardian.com/books/2014/apr/13/occupy-right-capitalism-failed-world-french-economist-thomas-piketty&quot;&gt;Guardian: Occupy was right: capitalism has failed the world&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.theguardian.com/commentisfree/2014/apr/28/inequality-hurts-everyone-taxation-growth&quot;&gt;Guardian: Inequality hurts everyone apart from the super-rich - and here&#39;s why&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.nytimes.com/2014/04/19/books/thomas-piketty-tours-us-for-his-new-book.html?src=me&quot;&gt;NYT: Economist Receives Rock Star Treatment&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.nytimes.com/2014/04/20/opinion/sunday/douthat-marx-rises-again.html&quot;&gt;NYT: Marx Rises Again&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.nytimes.com/2014/04/20/opinion/sunday/douthat-marx-rises-again.html&quot;&gt;NYT: Taking On Adam Smith (and Karl Marx)&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://chronicle.com/article/Capital-Man/146059&quot;&gt;Chronicle: Capital Man&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.foreignaffairs.com/articles/141218/tyler-cowen/capital-punishment&quot;&gt;Tyler Cowen: Capital Punishment&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://marginalrevolution.com/marginalrevolution/2014/04/why-i-am-not-persuaded-by-thomas-pikettys-argument.html&quot;&gt;Tyler Cowen: Why I am not persuaded by Thomas Piketty&#39;s argument&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.bloombergview.com/articles/2014-04-20/the-most-important-book-ever-is-all-wrong&quot;&gt;Bloomberg: The Most Important Book Ever Is All Wrong&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.economist.com/blogs/freeexchange/2014/04/inequality?fsrc=rss&quot;&gt;The Economist: &quot;Capital&quot; and its discontents&lt;/a&gt;&amp;nbsp;(phản hồi lại bài của Clive Crook trên Bloomberg)&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://updatedpriors.blogspot.com.au/2014/03/capital-in-partial-equilibrium.html&quot;&gt;Ryan Decker: Capital in partial equilibrium&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.nationalreview.com/article/374009/new-marxism-james-pethokoukis&quot;&gt;National Review: The New Marxism&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.newrepublic.com/article/117429/capital-twenty-first-century-thomas-piketty-reviewed&quot;&gt;Rober Solow: Thomas Piketty Is Right - Everything you need to know about &#39;Capital in the Twenty-First Century&#39;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.city-journal.org/2014/bc0422gs.html&quot;&gt;Guy Sorman: The Liberals&#39; New Hero&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.thesaigontimes.vn/113955/1-se-an-het-cua-99.html&quot;&gt;Nguyễn Vạn Phú: 1% sẽ ăn hết của 99%&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://reason.com/archives/2014/04/26/living-with-inequality&quot;&gt;Garett Jones: Living with Inequality&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
Mises.org: &lt;a href=&quot;http://bastiat.mises.org/2014/04/piketty-and-capital/&quot;&gt;Peter Klein&lt;/a&gt; and &lt;a href=&quot;http://bastiat.mises.org/2014/04/thomas-pikettys-sensational-new-book/&quot;&gt;Hunter Lewis&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.foreignpolicy.com/articles/2014/04/28/france_thomas_piketty_capital_in_the_twenty_first_century&quot;&gt;Foreign Policy: France Is Not Impressed With Thomas Piketty&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.businessinsider.com.au/carl-icahn-on-piketty-book-2014-4&quot;&gt;Karl Icahn: Interview with Business Insider&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.newrepublic.com/article/117673/piketty-read-marx-doesnt-make-him-marx&quot;&gt;New Republic: Thomas Piketty Is Pulling Your Leg&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.telegraph.co.uk/culture/books/bookreviews/10816161/Capital-in-the-Twenty-First-Century-by-Thomas-Piketty-review.html&quot;&gt;Mervyn King: Capital in the 21 century by Thomas Piketty, Review&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;https://www.project-syndicate.org/focal-points/piketty-s-charge&quot;&gt;Project Syndicate&lt;/a&gt;: &lt;a href=&quot;http://www.project-syndicate.org/commentary/kenneth-rogoff-says-that-thomas-piketty-is-right-about-rich-countries--but-wrong-about-the-world&quot;&gt;Rogoff&lt;/a&gt;, &lt;a href=&quot;https://www.project-syndicate.org/commentary/j--bradford-delong-is-surprised-by-the-poverty-of-conservative-criticism-of-capital-in-the-twenty-first-century&quot;&gt;DeLong&lt;/a&gt;, &lt;a href=&quot;http://www.project-syndicate.org/commentary/robert-j--shiller-praises-thomas-piketty-s-invaluable-contribution-to-a-debate-that-is-far-from-over&quot;&gt;Shiller&lt;/a&gt;, &lt;a href=&quot;http://www.project-syndicate.org/commentary/dani-rodrik-explains-why-capital-in-the-twenty-first-century-has-become-so-successful-in-the-us&quot;&gt;Rodrik&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.democracyjournal.org/32/the-inequality-puzzle.php?page=all&quot;&gt;Larry Summers: The Inequality Puzzle&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.ft.com/intl/cms/s/2/e1f343ca-e281-11e3-89fd-00144feabdc0.html#axzz32Xz2U6Le&quot;&gt;Chris Giles (FT): Piketty findings undercut by errors&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://blogs.ft.com/money-supply/2014/05/23/data-problems-with-capital-in-the-21st-century/&quot;&gt;Chris Giles (blog): Data problems with Capital in 21 century&lt;/a&gt;&amp;nbsp;(&lt;a href=&quot;http://blogs.ft.com/money-supply/2014/05/23/piketty-response-to-ft-data-concerns/?Authorised=false&quot;&gt;Piketty&#39;s response&lt;/a&gt;)&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://marginalrevolution.com/marginalrevolution/2014/05/what-do-the-piketty-data-problems-really-mean.html&quot;&gt;Tyler Cowen: What do the Piketty data problems really mean?&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://econbrowser.com/archives/2014/05/criticisms-of-piketty&quot;&gt;James Hamilton: Criticisms of Piketty&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://krugman.blogs.nytimes.com/2014/05/24/is-piketty-all-wrong/?_php=true&amp;amp;_type=blogs&amp;amp;_php=true&amp;amp;_type=blogs&amp;amp;_r=1&amp;amp;&quot;&gt;Paul Krugman: Is Piketty All Wrong?&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.economist.com/blogs/freeexchange/2014/05/inequality-0&quot;&gt;The Economist: The Piketty Problem?&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://economistsview.typepad.com/economistsview/2014/05/unpacking-the-first-fundamental-law.html&quot;&gt;James Galbraith: &#39;Unpacking the First Fundamental Law&#39;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://delong.typepad.com/delong_long_form/2014/05/the-honest-broker-mr-piketty-and-the-neoclassicists-a-suggested-interpretation-for-the-week-of-may-17-2014.html&quot;&gt;Brad DeLong:&amp;nbsp;Mr. Piketty and the &quot;Neoclassicists&quot;: A Suggested Interpretation&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.spectator.co.uk/features/9211721/unequal-battle/&quot;&gt;Evan Davis (The Spectator): Has Thomas Piketty met his match?&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;Phỏng vấn&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.ippr.org/juncture/juncture-interview-thomas-piketty-on-capital-in-the-twenty-first-century&quot;&gt;Juncture Interview&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.newrepublic.com/article/117655/thomas-piketty-interview-economist-discusses-his-distaste-marx&quot;&gt;New Republic&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://www.salon.com/2014/05/06/would_piketty_run_for_office_the_best_selling_economist_sounds_off_to_salon/&quot;&gt;Salon.com&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
Piketty/Krugman/Stiglitz/Durlauf&lt;br /&gt;
&lt;iframe allowfullscreen=&quot;&quot; frameborder=&quot;0&quot; height=&quot;315&quot; src=&quot;//www.youtube.com/embed/heOVJM2JZxI&quot; width=&quot;560&quot;&gt;&lt;/iframe&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;
&lt;b&gt;&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;
&lt;b&gt;Thomas Piketty&#39;s materials&lt;/b&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://piketty.pse.ens.fr/fr/teaching/10/25&quot;&gt;Notes của Piketty về các mô hình capital accumulation&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;
&lt;a href=&quot;http://piketty.pse.ens.fr/en/capital21c2&quot;&gt;Số liệu sử dụng trong Capital in 21 century&lt;/a&gt;&amp;nbsp;(&lt;a href=&quot;http://www.quandl.com/PIKETTY?keyword=*&amp;amp;page=1&quot;&gt;Quandl.com &lt;/a&gt;cũng có một chuyên trang về bộ số liệu này)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;</description><link>http://kinhtetaichinh.blogspot.com/2014/04/capital.html</link><author>noreply@blogger.com (Anonymous)</author><thr:total>9</thr:total></item><item><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4568422884507290858.post-1772781618981359743</guid><pubDate>Mon, 31 Mar 2014 02:41:00 +0000</pubDate><atom:updated>2014-03-31T12:41:05.464+10:00</atom:updated><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">Labor</category><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">Macro</category><title>Wage growth</title><description>&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;i&gt;[Warning: bài này khá wonkish và có nhiều từ tiếng Anh, ai dị ứng với cách viết này không nên đọc tiếp. Sorry.]&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mấy hôm trước tôi có hai notes trên G+ (&lt;a href=&quot;https://plus.google.com/112488760986970926997/posts/22sDKabZDHq&quot;&gt;1&lt;/a&gt;, &lt;a href=&quot;https://plus.google.com/112488760986970926997/posts/gBW1JuXPNvf&quot;&gt;2&lt;/a&gt;) về số liệu tăng trưởng nominal wage của VN trích dẫn trong một nghiên cứu của giáo sư &lt;a href=&quot;http://www.thesaigontimes.vn/home/xahoi/sukien/112459/&quot;&gt;Kenichi Ohno&lt;/a&gt;. Tôi nghi ngờ con số tăng trưởng 25.9%/năm trong giai đoạn 2009-2012 phản ánh đúng thực tế thị trường lao động VN mặc dù có vẻ con số này có nguồn từ &lt;a href=&quot;http://www.ilo.org/global/about-the-ilo/media-centre/press-releases/WCMS_195272/lang--en/index.htm&quot;&gt;ILO&lt;/a&gt;. Bên cạnh cảm nhận chủ quan của tôi về tốc độ tăng lương của VN trong giai đoạn đó, dưới đây tôi sẽ nói thêm một số cơ sở lý thuyết (macro) của các yếu tố tác động đến tăng trưởng tiền lương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong kinh tế học tiền lương (wage) và thị trường lao động nói chung (labor market) được nghiên cứu chủ yếu trên khía cạnh micro, vd search theory, efficiency wage, minimum wage, mặc dù ứng dụng của những nghiên cứu đó lại chủ yếu trong macro. Có lẽ mô hình nổi tiếng nhất về labor market trong macro là Phillips curve, nhưng đây lại là mô hình static - nghĩa là chỉ quan tâm đến quan hệ giữa (un)employment và inflation/output ở một thời điểm nhất định (equilibrium) nên không giải thích được tốc độ tăng trưởng của lương bổng (wage growth) theo thời gian. Trên thực tế vấn đề wage growth trong macro chỉ là hệ quả gián tiếp của các mô hình dynamic về business cycle như RBC hay New Keynesian, hoặc môt số mô hình liên quan đến tăng trưởng kinh tế (economic growth).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đến nay hiểu biết của các nhà kinh tế (macro) về wage growth khá đơn giản. Trong dài hạn real wage growth phải bằng real (labor) productivity growth, nghĩa là nếu một nền kinh tế có real productivity tăng 2%/năm thì real wage growth cũng phải có tốc độ tăng trưởng xấp xỉ như vậy. Real productivity growth có 2 nguồn động lực chính: capital accumulation/investment và technological improvement. Khi nền kinh tế tích tụ (physical) capital thì marginal product of labor sẽ tăng do đó output per worker sẽ tăng. Tương tự như vậy dù capital không tăng nhưng chất lương máy móc, thiết bị, cơ sở hạ tầng tăng (technological progress) thì output per worker cũng tăng. Human capital (bao gồm cả management skills) có thể xếp vào 1 trong 2 yếu tố trên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nếu nền kinh tế có lạm phát, nominal wage growth sẽ bằng real wage growth cộng thêm tốc độ lạm phát. Nhiều người nói về wage-price spiral hàm ý rằng nominal wage growth và inflation rate có thể tạo thành một feedback loop, lạm phát cao dẫn đến nominal wage phải tăng rồi wage tăng quay lại làm tăng lạm phát. Tuy nhiên trong lý thuyết macro đây chỉ là kênh truyền dẫn chứ không phải nguyên nhân gốc dẫn đến lạm phát hay nominal wage growth. Đằng sau nó phải là monetary policy hoặc các thể loại external shocks.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đó là về dài hạn, trong ngắn hạn wage growth có thể thay đổi tuỳ thuộc và demand-supply trên thị trường lao động. Khi nền kinh tế phát triển nóng nhu cầu thuê mướn nhân công tăng cao trong khi unemployment thấp sẽ làm nominal wage growth tăng nhanh hơn inflation +&amp;nbsp;productivity&amp;nbsp;growth. Ngược lại khi nền kinh tế bị suy thoái nominal wage growth sẽ tăng chậm lại hoặc thậm chí không tăng vì doanh nghiệp thu hẹp sản xuất và cắt giảm lao động. Đa số các nhà kinh tế tin rằng nominal wage growth không đối xứng trong một chu kỳ kinh tế, nghĩa là lương bổng tăng nhanh trong giai đoạn booming nhưng ít khi giảm trong các giai đoạn recession. Hiện tượng này gọi là nominal wage downward rigidity, được giải thích bởi tâm lý của người lao động khó chấp nhận bị cắt lương và sự tồn tại của các tổ chức công đoàn và luật lương tối thiẻu. Đây là lý do mà nhiều nhà kinh tế cho rằng một mức lạm phát thấp và ổn định có lợi cho nền kinh tế chứ không phải zero inflation mới tốt.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Quay lại trường hợp nominal wage growth của VN trong giai đoạn 2009-2012, xét cả yếu tố dài hạn lẫn ngắn hạn tôi không thấy có lý do để tin vào con số 25.9%/năm. Mặc dù đây là giai đoạn có inflation cao, trung bình 12.1%/năm, productivity của VN tăng khá chậm chỉ quanh quẩn 3%. Như vậy nếu nominal wage growth phản ánh mối quan hệ dài hạn thì tốc độ tăng trưởng cũng chỉ xấp xỉ 15-16%/năm. Hơn nữa tôi tin là các yếu tố ngắn hạn trong giai đoạn này không có lợi cho wage growth vì nền kinh tế đang trên đà đi xuống, labor demand chắc chắn không cao để đến mức các doanh nghiệp phải tăng lương đồng loạt. Tôi không rõ tốc độ tăng lương tối thiểu trong giai đoạn này thế nào, nhưng nếu nó không quá cao so với tốc độ lạm phát thì đó cũng không phải nguyên nhân. Hơn nữa số lao động được hưởng lợi trực tiếp từ minimum wage chỉ là một phần nhỏ trong nền kinh tế. Số liệu của TCTK về lương bổng trong khu vực kinh tế nhà nước cũng phản ánh điều này, nominal wage growth chỉ nhỉnh hơn inflation rate môt chút, còn real wage growth thấp hơn hẳn real productivity growth. Thật khó có thể tin được real wage growth của toàn bộ nền kinh tế cao hơn 10% trong hoàn cảnh như vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tất nhiên lập luận của tôi có thể sai, tuy nhiên nếu giáo sư Ohno và/hoặc ILO không chỉ ra được lý do làm cho nominal/real wage của VN tăng trưởng cao như vậy trong giai đoạn 2009-2012 thì tôi vẫn giữ nguyên nghi ngờ của mình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;</description><link>http://kinhtetaichinh.blogspot.com/2014/03/wage-growth.html</link><author>noreply@blogger.com (Anonymous)</author><thr:total>6</thr:total></item><item><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4568422884507290858.post-2428429930195890683</guid><pubDate>Wed, 05 Mar 2014 13:24:00 +0000</pubDate><atom:updated>2014-03-05T23:24:16.578+10:00</atom:updated><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">Charity</category><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">Kiva</category><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">Micro finance</category><title>Kiva</title><description>&lt;br /&gt;
Tôi đã từng nghe nói đến &lt;a href=&quot;http://www.kiva.org/about&quot;&gt;Kiva&lt;/a&gt; môt vài lần nhưng không để ý lắm cho đến khi đọc được &lt;a href=&quot;http://www.businessinsider.com.au/hp-is-giving-employees-money-to-lend-on-kiva-2014-2&quot;&gt;bài báo này&lt;/a&gt; trên Business Insider. Bài báo cho biết công ty HP vừa cho mỗi nhân viên $25 để họ làm từ thiện bằng cách cho vay thông qua Kiva. Vào tìm hiểu kỹ hơn về tổ chức này mới vỡ lẽ mô hình hoạt động rất hay của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kiva cổ suý cho micro-finance ở các nước nghèo bằng cách lập ra một website để những nhà hảo tâm ở các nước phát triển (hoặc bất kỳ đâu trên thế giới) có thể góp một khoản tiền nhỏ cho các dự án micro-finance. Ở mỗi nước đang phát triển Kiva xây dựng một mạng lưới local partner, thường là các NGO và các tổ chức xã hội khác có kinh nghiệm trong lĩnh vực micro-finance. Mỗi khi một partner tìm được một dự án cần vay tiền, họ sẽ giúp chủ dự án - thường là những người dân nghèo cần một khoản tiền nhỏ để đầu tư sản xuất/kinh doanh - viết và giới thiệu dự án lên website Kiva. Các nhà hảo tâm, là registered user trên website Kiva, có thể xem danh sách các dự án đang cần vay tiền rồi chọn ra dự án mà họ muốn giúp đỡ bằng cách cho vay một khoản tiền nào đó, tối thiểu là $25. Kiva sẽ nhận tiền rồi chuyển cho local partner để họ giải ngân, theo dõi dự án và thu hồi vốn khi khoản vay đáo hạn. Sau đó các nhà hảo tâm có thể rút vốn của họ ra nhưng đa số lại tiếp tục cho các dự án khác vay.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hiện tại Kiva có 1.6 triệu user (nhà hảo tâm) và đã cho vay hơn 536 triệu USD, trung bình 415 USD một khoản vay. Tỷ lệ hoàn vốn 98.97%, nghĩa là &quot;nợ xấu&quot; của hệ thống microfinance này chỉ là 1.03%, thấp hơn nhiều tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng VN. Kiva đã có mạng lưới 242 local partner ở 73 quốc gia, trong đó có VN (6 partner). Ở thời điểm hiện tại (5/3/2014) có tổng cộng 3914 dự án đang chờ được cho vay, trong đó có 2 &lt;a href=&quot;http://www.kiva.org/lend#/?perPage=20&amp;amp;countries%5B%5D=VN&quot;&gt;dự án từ VN&lt;/a&gt;. So với các nước có thể nói số dự án của VN khá thấp (Philippines có 647 dự án, Pakistan có 119, Cambodia 25). Như vậy có lẽ Kiva chưa được các NGO liên quan đến micro-finance ở VN quan tâm và bản thân Kiva cũng chưa được nhiều người VN biết đến. Số người VN tham gia cho vay có lẽ cũng khá khiêm tốn, &amp;nbsp;nhìn số user đã cho vay trong 2 dự án của VN thấy rất ít tên người Việt (có một chị có nickname là &lt;a href=&quot;http://www.kiva.org/lender/tetet?pageID=1&quot;&gt;phuong60&lt;/a&gt; đã cho vay 538 dự án). Khi login vào Kiva bằng Facebook account tôi chỉ mới thấy có Quoc-Anh Do và Anh Gau Pham trong số Facebook friends của tôi đã là registered user.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rất mong các tổ chức thiện nguyện và NGO ở VN quan tâm hơn đến Kiva, đăng ký làm local partner với tổ chức này để có thêm cơ hội giúp người nghèo VN vay tiền. Cũng rất mong các bạn có điều kiện ở cả nước ngoài lẫn trong nước tham gia cho vay dù chỉ với một số tiền nhỏ. Với tỷ lệ hoàn vốn rất cao của Kiva số tiền của các bạn sẽ được quay vòng nhiều lần, giúp cho nhiều đồng bào khó khăn của chúng ta có môt chút vốn khởi nghiệp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;i&gt;Note: Bạn nào muốn đăng ký làm user của Kiva để cho vay có thể vào trực tiếp &lt;a href=&quot;http://www.kiva.org/home&quot;&gt;website&lt;/a&gt; của tổ chức này hoặc click vào:&amp;nbsp;&lt;a href=&quot;http://www.kiva.org/invitedby/giang5498&quot;&gt;http://www.kiva.org/invitedby/giang5498&lt;/a&gt;. Đây là link mời tham gia của tôi, nếu bạn đăng ký qua link này tôi sẽ được một tổ chức từ thiện thông qua Kiva bonus cho $25 credit để tiếp tục cho vay. Cám ơn các bạn.&lt;/i&gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;</description><link>http://kinhtetaichinh.blogspot.com/2014/03/kiva.html</link><author>noreply@blogger.com (Anonymous)</author><thr:total>9</thr:total></item><item><guid isPermaLink="false">tag:blogger.com,1999:blog-4568422884507290858.post-2318746582812062207</guid><pubDate>Fri, 28 Feb 2014 13:21:00 +0000</pubDate><atom:updated>2014-02-28T23:21:12.549+10:00</atom:updated><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">Bitcoin</category><category domain="http://www.blogger.com/atom/ns#">Regulation</category><title>Bitcoin regulation</title><description>&lt;br /&gt;
Hôm qua chủ tịch Fed &lt;a href=&quot;http://www.businessinsider.com.au/yellen-on-bitcoin-2014-2&quot;&gt;Janet Yellen&lt;/a&gt; trả lời chất vấn ở QH Mỹ đã nói Fed không có thẩm quyền để giám sát hoặc quản lý bitcoin. Lý do là luật Mỹ (Federal Reserve Act) giới hạn quyền của Fed chỉ được giám sát hệ thống ngân hàng trong khi bitcoin được giao dịch bên ngoài hệ thống này. Cũng trong hôm qua NHNN ra &quot;&lt;a href=&quot;http://www.sbv.gov.vn/portal/contentattachfile/idcplg?dID=11734668&amp;amp;dDocName=CNTHWEBAP0116211755883&amp;amp;Rendition=Th%C3%B4ng%20c%C3%A1o%20b%C3%A1o%20ch%C3%AD%20v%E1%BB%81%20Bitcoin%20v%C3%A0%20c%C3%A1c%20lo%E1%BA%A1i%20ti%E1%BB%81n%20%E1%BA%A3o%20t%C6%B0%C6%A1ng%20t%E1%BB%B1%20kh%C3%A1c&amp;amp;filename=Thong%20cao%20bao%20chi%20ve%20bitcoin%20final.docx&quot;&gt;Thông cáo báo chí về bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác&lt;/a&gt;&quot; (link đến file .doc). Đọc bản thông cáo báo chí này, mặc dù có một số điểm tôi không hoàn toàn đồng ý (sẽ nói thêm bên dưới), có thể nói NHNN đã làm đúng chức năng và không vượt quá jurisdiction của mình tương tự như Yellen/Fed đã hành xử. Đây là điểm rất đáng khen của NHNN.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một thông cáo báo chí của cơ quan quản lý nhà nước chỉ nêu ra quan điểm hoặc cung cấp số liệu, thông tin, sự kiện cho dân chúng biết, nó không phải là văn bản pháp luật liên quan đến chức năng, quyền hạn của cơ quan đó. Quan điểm của NHNN hay bất kỳ cơ quan nhà nước nào khác có thể đúng, có thể sai, báo chí và các chuyên gia có thể thảo luận, phản bác. Thậm chí những đối tượng bình thường chịu sự quản lý của NHNN (trong trường hợp này là các NHTM) có thể không thực hiện những khuyến cáo trong thông cáo báo chí cho đến khi có văn bản (dưới luật) chính thức được ban hành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tôi nghĩ NHNN hiểu rất rõ điều này nên đã viết &quot;&lt;i&gt;Về việc sử dụng bitcoin như là một loại tiền tệ hoặc phương tiện thanh toán, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam&lt;b&gt; có ý kiến như sau&lt;/b&gt;:...&lt;/i&gt;&quot; (tôi nhấn mạnh). Rất tiếc báo chí khi đưa tin về thông cáo này không hiểu rõ điểm này nên có những title như &quot;&lt;a href=&quot;http://www.thesaigontimes.vn/Home/taichinh/tiente/111124/&quot;&gt;Việt Nam nói không với tiền ảo&lt;/a&gt;&quot; hay &quot;&lt;a href=&quot;http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140228/viet-nam-khong-chap-nhan-tien-bitcoin.aspx&quot;&gt;Việt Nam không chấp nhận tiền Bitcoin&lt;/a&gt;&quot;, hoặc nhẹ nhàng hơn như &quot;&lt;a href=&quot;http://tuoitre.vn/Kinh-te/595829/ngan-hang-nha-nuoc-canh-bao%C2%A0tien-ao-bitcoin-khong-hop-phap.html&quot;&gt;Ngân hàng Nhà nước cảnh báo tiền ảo Bitcoin không hợp pháp&lt;/a&gt;&quot; hay &quot;&lt;a href=&quot;http://vneconomy.vn/20140227080458879P0C6/ngan-hang-nha-nuoc-canh-bao-ve-tien-ao-bitcoin.htm&quot;&gt;Ngân hàng Nhà nước cảnh báo về tiền ảo Bitcoin&lt;/a&gt;&quot;. Cho dù ý kiến của NHNN là bitcoin không phải là đồng tiền và phương tiện thanh toán hợp pháp ở VN, đó mới chỉ là ý kiến chứ chưa phải qui định quản lý chính thức.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vậy tại sao NHNN mới chỉ ra thông cáo báo chí chứ chưa đưa ra văn bản quản lý chính thức (thông tư, quyết định)? Có thể vì NHNN chưa có thời gian để tìm hiểu kỹ về bitcoin, có thể họ còn muốn quan sát xem các nước khác quản lý thế nào, có thể họ nghĩ không lâu nữa bitcoin sẽ chết nên chẳng việc gì phải mất công ra văn bản. Tôi nghĩ NHNN chưa thực sự hiểu về bitcoin vì cả 4 rủi ro/tác hại mà phần đầu của bản thông cáo đưa ra đều có vấn đề.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;i&gt;Thứ nhất&lt;/i&gt;, đúng là bitcoin có tính ẩn danh cao và đã trở thành công cụ cho giới tội phạm, nhưng đó không phải là rủi ro cho người sử dụng mà là khó khăn cho cơ quan quản lý. Về mặt ẩn danh tiền mặt (cash) cao hơn bitcoin, giới tội phạm từ trước đến nay sử dụng tiền mặt không hề ít nhưng đó không phải rủi ro cho người sử dụng và cũng không vì tính ẩn danh mà phải cấm sử dụng tiền mặt. Một điểm quan trọng mà bản thông cáo báo chí này không đưa ra/phân tích là liệu bitcoin có lợi ích gì cho người sử dụng bình thường hay không. Nếu chỉ có một lượng giao dịch nhỏ bitcoin cho các hoạt động phạm pháp trong khi lợi ích cho các hoạt động hợp pháp khác lớn thì có thể benefit của hệ thống bitcoin sẽ vượt cost và nên khuyến khích sử dụng đồng tiền này.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;i&gt;Thứ hai&lt;/i&gt;, đúng là bitcoin có rủi ro sẽ bị tấn công, đánh cắp và thất thoát trên thế giới ảo, nhưng rủi ro này có thực sự &quot;&lt;i&gt;rất lớn&lt;/i&gt;&quot; hay không? So với rủi ro tiền mặt bị trộm cướp, thẻ tín dụng bị làm giả, tiền gửi ngân hàng bị &quot;Huyền Như&quot; thì rủi ro bitcoin bị mất lớn hơn bao nhiêu lần? Rủi ro đó có đến mức làm benefit của bitcoin giảm thấp hơn cost hay không? Ngay cả nếu rủi ro đó hiện tại khá lớn nhưng sự tiến bộ công nghệ trong thời gian tới có thể giảm rủi ro đó xuống hay không? Mt.Gox đóng cửa không khác gì một ngân hàng phá sản. Nếu có một hệ thống deposit insurance cho bitcoin thì tác động của một vụ đóng cửa như vậy sẽ được giảm thiểu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;i&gt;Thứ ba&lt;/i&gt;, giá trị của bitcoin biến động mạnh và phức tạp đúng là rủi ro cho nhà đầu tư, nhưng bất kỳ loại hình đầu tư nào cũng có rủi ro, nhà đầu tư chấp nhận rủi ro thì họ tham gia. Đầu tư vào cổ phiếu ở VN cũng đầy rủi ro nhưng như vậy không có nghĩa nhà đầu tư không nên tham gia. Vấn đề là họ có hiểu rõ rủi ro đó hay không, điều này liên quan đến transparency/disclosure, và thị trường có công cụ để hedge rủi ro nếu họ cần tránh hay không. Bitcoin mới ra đời chưa lâu và còn trong giai đoạn định hình, có thể nó sẽ chết trong tương lai nhưng cũng có thể nó sẽ ổn định và phát triển thành một công cụ thanh toán có uy tín. Lúc đó có thể rủi ro của bitcoin sẽ không khác mấy rủi ro của một đồng tiền chính thức.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;i&gt;Thứ tư&lt;/i&gt;, đúng ra bitcoin &quot;chưa&quot; bị chi phối và kiểm soát bởi các cơ quan quản lý nhà nước và quốc tế, nhưng không có nghĩa là không bao giờ. Ngay cả hiện tại chưa có ai quản lý bitcoin, các giao dịch sử dụng bitcoin, và các dịch vụ liên quan đến nó, điều đó không có nghĩa người sở hữu bitcoin sẽ chịu toàn bộ rủi ro vì không có cơ chế bảo vệ quyền lợi. Tôi không rõ NHNN có văn bản nào thừa nhận việc thanh toán qua Paypal hay không nhưng các bên giao dịch bằng Paypal trên lãnh thổ VN hoàn toàn có quyền kiện nhau ra tòa kinh tế nếu có tranh chấp. Quyền lợi của họ được bảo hộ bằng các bộ luật kinh tế/dân sự khác. Việc bộ Tư pháp Nhật và Mỹ điều tra Mt.Gox là bằng chứng cho thấy cơ quan bảo vệ pháp luật vẫn có trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng cho dù bitcoin chưa được Fed hay BoJ quản lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở đây tôi xin nói rõ thêm một điểm về tính hợp pháp của một đồng tiền và tính hợp pháp của phương tiện thanh toán. Mỗi quốc gia chỉ có duy nhất một đồng tiền hợp pháp (legal tender), trừ một số trường hợp đặc biệt. Tính hợp pháp của đồng tiền quốc gia nằm ở chỗ nó phải được chấp nhận bắt buộc là phương tiện thanh toán cho các giao dịch kinh tế, nghĩa là nếu bạn mua hàng và trả bằng VND thì người bán trên lãnh thổ VN không có quyền từ chối nhận thanh toán bằng đồng tiền đó. Lưu ý rằng tính hợp pháp của đồng tiền không phải là điều kiện để giao dịch kinh tế được pháp luật bảo hộ. Một giao dịch bất hợp pháp bằng đồng tiền quốc gia vẫn có thể bị tòa không công nhận, ví dụ mua bán nội tạng không được công nhận ở hầu hết các nước trên thế giới và tòa sẽ không xử những vụ tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán nội tạng trừ khi có dấu hiệu hình sự.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tính hợp pháp của một đồng tiền đồng nghĩa với nó là phương tiện thanh toán hợp pháp. Nhưng một quốc gia có thể có nhiều phương tiện thanh toán hợp pháp khác ngoài đồng tiền chính thức của quốc gia đó. Ví dụ có thể sử dụng ngoại tệ, vàng làm phương tiện thanh toán, hay có thể sử dụng hàng hóa và dịch vụ cho mục đích thanh toán (hàng đổi hàng). Trên thực tế bank credit có thể coi là một loại tiền tệ bán chính thức đồng thời là phương tiện thanh toán hợp pháp ở tất cả các nước. Khi bạn sử dụng credit card thanh toán cho một món hàng, ngân hàng tạo ra một phương tiện thanh toán hợp pháp cho bạn, nhưng đó không phải là đồng tiền hợp pháp. Người bán có quyền từ chối không nhận thanh toán bằng credit card hoặc không chấp nhận một số loại card và họ không hề phạm pháp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Với đồng bitcoin hiển nhiên nó không là đồng tiền hợp pháp ở bất kỳ quốc gia nào vì nó không được một chính phủ nào tạo ra. Điều này không cần central bank đứng ra tuyên bố. Với nhiều nước ngay cả tính hợp pháp của phương tiện thanh toán cũng không nằm trong thẩm quyển của central bank, như trường hợp US Federal Reserve System tôi đã trích dẫn bên trên. Chỉ khi nào ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác sử dụng đồng tiền này làm phương tiện thanh toán thì Fed mới có quyền can thiệp. Bên ngoài hệ thống ngân hàng bitcoin được coi như một loại tài sản bình thường và được tồn tại cho đến khi &amp;nbsp;có luật cấm cụ thể (nếu có). Hầu hết các quốc gia đã tuyên bố quan điểm về bitcoin được liệt kê trong &lt;a href=&quot;http://en.wikipedia.org/wiki/Legal_status_of_Bitcoin&quot;&gt;entry này&lt;/a&gt; của Wikipedia đều không cấm việc sở hữu, trao đổi bitcoin như một phương tiện thanh toán cá nhân, họ chỉ cảnh báo rủi ro cho người sử dụng tương tự như trong thông cáo báo chí của NHNN VN. Trường hợp duy nhất có văn bản cấm chính thức là PBoC (TQ) không cho phép các ngân hàng thanh toán bằng bitcoin. Nếu NHNN ra thông tư cấm các tổ chức tín dụng không được sử dụng bitcoin như đã tuyên bố trong thông cáo báo chí thì VN sẽ là nước thứ hai chính thức cấm. Thailand có một giai đoạn cấm nhưng đã bỏ lệnh này.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tóm lại việc NHNN ra thông cáo báo chí nêu rõ quan điểm của mình về bitcoin và cảnh báo các rủi ro cho nhà đầu tư là một việc làm đúng đắn, cẩn trọng. Cá nhân tôi khuyến cáo NHNN chưa nên ra văn bản chính thức cấm hay cho phép giao dịch bitcoin trong hệ thống ngân hàng. Cần chờ thêm một thời gian nữa theo dõi sự phát triển của thị trường này và các chính sách regulation của các nước khác. Gần đây Nhật đã kêu gọi hợp tác quốc tế về việc quản lý bitcoin, bang New York của Mỹ cũng đang soạn thảo một số qui chế kiểm soát các tổ chức có hoạt động liên quan đến bitcoin. Trước mắt NHNN nên tìm cách thu thập số liệu về các hoạt động liên quan đến bitcoin trên lãnh thổ VN, tư vấn cho các cơ quan tư pháp và QH về các vấn đề hay tranh chấp liên quan đến đồng tiền này. Tôi hi vọng đến một ngày nào đó bitcoin hoặc một cryptocurrency khác sẽ trở thành một phương tiện thanh toán hợp pháp và phổ biến ở VN và trên thế giới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;</description><link>http://kinhtetaichinh.blogspot.com/2014/02/bitcoin-regulation.html</link><author>noreply@blogger.com (Anonymous)</author><thr:total>6</thr:total></item></channel></rss>